Chương 105 - “Điện hạ, thì ra sắt… thật sự cũng có thể nóng lên.”
- Yuu Hibari
- Apr 8
- 13 min read
Thấy Tạ Lãng Dương bị hỏi đến nghẹn lời, Cung Tri Viễn lập tức tiếp lời, thong thả nói: “Ôn Trác miệng lưỡi lanh lợi, Tạ thượng thư vốn trung hậu chất phác, tự nhiên khó lòng nói lại hắn. Nhưng chuyện này đã liên quan đến nữ nhi của lão thần, lão thần không thể không đứng ra biện giải vài câu.”
“Ngay từ khi Hành Tắc nhập sĩ, đã cùng Ngọc tiểu nữ thành thân, mấy năm phu thê tương kính như tân, cầm sắt hòa minh, cả triều văn võ đều là nhân chứng. Chỉ riêng điều đó đã đủ chứng minh hắn là người phẩm hạnh đoan chính. Còn chuyện ở Thanh Lương điện năm ấy, hắn cầu tình cho Lục điện hạ, chẳng qua vì thương bệ hạ yêu con tha thiết, xuất phát từ một tấm lòng trung quân.”
Ông đổi giọng, trầm xuống: “Trái lại Ôn Trác, năm nay đã hai mươi lăm tuổi mà vẫn chưa chịu thành hôn. Bất luận ai mai mối, hắn đều khéo léo từ chối. Bệ hạ chẳng thấy kỳ lạ sao? Hắn tự xưng phóng túng, thường lui tới giáo phường. Bệ hạ cứ truyền những nữ tử ấy đến hỏi xem, liệu họ có thật từng cùng Ôn chưởng viện ân ái hay không. Việc này liên quan đến quốc pháp, liên quan đến uy nghiêm triều đình, thần khẩn xin Hình bộ nghiêm tra, ắt sẽ hỏi ra thực tình!”
Khi Tạ Lãng Dương lấy ra bức 《Vãn Sơn phú》, trong lòng Cung Tri Viễn đã dậy sóng cuồn cuộn. Nghĩ đến việc Tạ Lãng Dương từng có tâm tư như thế với Ôn Trác, ông ta không khỏi buồn nôn.
Nhưng ông và Tạ Lãng Dương đều thuộc phe Thẩm Sân, thành bại ở một phen này. Dù ghê tởm đến đâu, cũng phải nén xuống, cùng hắn thắt thành một sợi dây.
Khi bày kế, Cung Tri Viễn đã tính sẵn — Tạ Lãng Dương đã thành hôn nhiều năm, phu thê hòa thuận chính là tấm bùa hộ mệnh tốt nhất. Ôn Trác muốn lôi kéo hắn xuống nước, chẳng khác nào người điên nói mộng.
Quả nhiên, lời Cung Tri Viễn vừa dứt, trong điện đã vang lên tiếng phụ họa —
“Đúng vậy, vì sao Ôn chưởng viện mãi không cưới?”
“Ta nhớ khi hắn vừa về kinh, Trần lão trung đường từng muốn tác hợp hắn với cháu gái mình. Cô nương ấy dịu dàng biết bao. Ai ngờ hắn lưu luyến giáo phường suốt năm ngày, dọa Trần lão từ đó không dám nhắc chuyện hôn sự nữa.”
“Bên cạnh hắn hồng nhan tri kỷ chẳng thiếu, lại cố tình không nạp thiếp, quả thật trái lẽ thường!”
“Các vị xem câu chữ trong 《Vãn Sơn phú》kia, chẳng lẽ hắn thật sự đang giữ lời hẹn ước?”
Tạ Lãng Dương vẫn ghì trán sát đất, máu toàn thân dồn lên đỉnh đầu, hai mắt căng đau, gân xanh nơi cổ nổi lên dữ tợn như muốn vỡ.
Hắn nghe chính mình cất tiếng: “Bệ hạ! Năm Vũ Thành thứ bảy, Hy Diên Thái tử đắm chìm nơi linh nhân Thanh Tuyệt, lơ là Đông cung, bỏ bê cung đình. Thành Tổ nổi giận, ban chết, truyền chiếu thiên hạ để chấn chỉnh kỷ cương!”
“Năm Tụng Đức thứ chín, kinh kỳ bùng nổ án phong nguyệt nam quán, kẻ liên can trải khắp văn đàn tuấn tú, trụ cột triều đình. Tụng Đức Tiên Đế tuân tổ chế, một lệnh ban xuống, một trăm hai mươi tám người đều bị xử trảm!”
“Năm Gia Bình thứ mười, Thái phó Thái tử nuôi nam sủng, làm nhục lễ giáo. Thái tử trước dâng biểu xin phế sư, sau quỳ trước điện dâng tấu, đích thân nâng chén rượu độc tiễn biệt ân sư!”
“Năm Khải Thái thứ ba, Liêm Châu đất cằn dân nghèo, nam tử không đủ sính lễ, khó kết lương duyên, bèn kết nghĩa huynh đệ, làm ô uế phong tục. Tin truyền đến triều đình, long nhan đại nộ, một khi sự phát, liên lụy mấy vạn người, đều chịu quốc pháp!”
“Còn có án thư đồng năm Triệu Hy thứ mười một, án thảo đường năm Khang Trinh thứ mười chín… Bọn họ đều tội không thể tha, nay đã vùi thây dưới đất vàng, đang nhìn bệ hạ! Xin bệ hạ tuân theo di huấn tiên tổ, hiển uy luật pháp!”
Lạc Minh Phố lập tức nắm lấy thời cơ, quỳ bò lên mấy bước, lời lẽ kích động: “Xin bệ hạ tuân theo di huấn tiên tổ, hiển uy luật pháp, chuẩn cho Hình bộ triệt tra vụ án này, trả lại cho triều đình Đại Càn một mảnh phong khí thanh chính!”
Trong triều không thiếu kẻ ghen hiền ghét tài. Thấy trên cao có chỗ trống có thể chen vào, dù trước kia không oán không thù, lúc này cũng phải đạp thêm một chân.
“Xin bệ hạ tuân theo di huấn tiên tổ, hiển uy luật pháp!”
“Xin bệ hạ tuân theo di huấn tiên tổ, hiển uy luật pháp!”
Tiếng thỉnh chỉ dồn dập vang vọng trong điện Võ Anh, thẳng bức về phía long tọa — nơi vị quân vương lòng đầy nghi hoặc đang ngự trị.
Đã có quá nhiều người chết. Cũng có quá nhiều người đang nhìn.
Ông là cửu ngũ chí tôn, nắm giữ vạn dặm giang sơn, nhưng đồng thời cũng như dã thú mắc lồng, sống vì miệng đời.
Là Tạ Lãng Dương có ý đồ riêng, hay Ôn Trác thật sự nghịch luật quốc gia — trong nhất thời, ông vẫn chưa thể phân định.
Nhưng bài phú kia nhìn qua quả thực giống thật. Ôn Trác lại nhiều năm chưa cưới vợ, quả cũng đáng ngờ.
“Ôn Trác, ngươi còn gì để nói nữa không?” Giọng Thuận Nguyên Đế càng lúc càng trầm, sự tin cậy và trọng dụng thuở trước lặng lẽ rạn ra một vết nứt.
Trong thoáng chốc, ông dường như nhìn thấy nơi vết nứt ấy le lói một tia sáng yếu ớt. Dung nhan cố nhân vẫn như xưa, đôi mắt giống Ôn Trác đến kỳ lạ đang nhìn ông chăm chú, khiến lòng ông chợt run sợ.
Ôn Trác dường như đã sớm đoán trước cảnh này. Mặc cho tiếng công kích trong điện vang dội, hắn vẫn sừng sững bất động, chỉ tự giễu: “Muốn thêm tội thì sợ gì không có lời. Thần ra làm quan tám năm, không bè đảng, không tham ô, không nắm quyền bính. Nay có người muốn trừ thần để dọn đường cho kẻ khác thăng tiến, nghĩ đi nghĩ lại cũng chỉ còn cách bịa đặt tội danh. Đã vậy, thần nguyện trói tay chịu tra, mặc cho triệt tra.”
Thuận Nguyên Đế gật đầu: “Được…”
Thấy hoàng đế sắp hạ chỉ, Tiết Sùng Niên rốt cuộc không nhịn được. Ông liếc nhìn quanh, thấy cả triều văn võ đều bo bo giữ mình, không ai nói một câu công bằng cho Ôn Trác, cuối cùng dậm chân bước ra, cứng đầu nói: “Bệ hạ, việc này liên quan đến mệnh quan triều đình. Là nghịch đức trái luân thường hay là cố ý vu hãm, không nên để một mình Hình bộ quyết đoán. Thần khẩn xin Tam pháp ty hội thẩm, để giữ trọn danh công chính của bệ hạ!”
Ông vốn luôn biết tự bảo toàn, sợ rước họa vào thân. Nhưng hai năm nay Ôn Trác nhiều lần chỉ điểm, có ơn với ông. Nếu lúc này khoanh tay đứng nhìn, để Lạc Minh Phố dùng hình bức cung, e rằng cả đời này ông cũng không thể an tâm.
Lạc Minh Phố còn muốn nói thêm, nhưng đã bị Thuận Nguyên Đế giơ tay ngăn lại: “Chuẩn.”
Tiết Sùng Niên cuối cùng thở phào, lau mồ hôi lạnh trên trán.
“Tạ Lãng Dương ở nhà chờ tra xét, vẫn xử lý công vụ Bộ Lại như thường.” Thuận Nguyên Đế đảo mắt nhìn quần thần, sắc mặt uy nghi, từng chữ rõ ràng: “Chưởng viện Hàn Lâm Ôn Trác đình chức đợi tra, tạm giam tại Đại Lý Tự chờ thẩm.”
Ôn Trác chắp tay cúi mình: “Tạ bệ hạ.”
Vụ vào ngục này vốn đã nằm trong tính toán của hắn. Hắn thà lấy thân nhập cục, cũng muốn để quân vương tận mắt nhìn thấy — một cô thần không bè không đảng, một sủng thần được đế vương trọng dụng, chỉ vì một bài phú cũ năm xưa mà có thể bị quần thần bút tru khẩu phạt, đẩy vào lao ngục, trăm miệng khó biện.
Cái sức mạnh lấy văn định tội, trừ khử dị kỷ ấy, hôm nay có thể chĩa vào hắn, ngày mai cũng có thể chỉ thẳng long tọa.
Thuận Nguyên Đế dừng lại một chút rồi nói thêm: “Ôn Trác không cần cởi quan phục, miễn xiềng xích.”
Tiết Sùng Niên thoáng sững sờ, rồi vội vàng đáp: “Thần tuân chỉ!”
Ngoài điện, tuyết mỏng vẫn chưa ngừng. Hạt tuyết đập lên mái ngói lưu ly, tan thành từng vệt ẩm lạnh thấu xương.
Người chờ thẩm vốn không được đặc ân quan viên. Ôn Trác đi theo sau Cấm vệ quân, khép chặt áo lông dày, bước vào màn mưa tuyết mịt mù. Hàn khí luồn vào cổ áo khiến hắn khẽ rùng mình.
Nhưng lưng hắn vẫn thẳng như trúc, bước chân khoan thai, như thể đang đi trên thềm mây rộng mở, chứ không phải con đường gập ghềnh của kẻ mang tội.
Cốc Vi Chi mắt đỏ ngầu, giật lấy chiếc ô giấy dầu tiểu thái giám chuẩn bị cho các đại thần, sải bước đuổi theo Ôn Trác. Ngay khoảnh khắc sắp bắt kịp, hắn bị một ánh mắt ngoái lại của Ôn Trác ghim chặt tại chỗ.
Tay cầm ô trắng bệch, cổ họng nghẹn lại, tóc mai rất nhanh bị tuyết làm ướt.
Trời chưa đủ lạnh, tuyết chưa đủ dày, nhưng với Ôn Trác chẳng khác nào một trận mưa lạnh xối thẳng vào người.
Tiết Sùng Niên đi ngang qua, tức giận không kìm được: “Cốc đại nhân giờ mới sốt ruột? Không biết trên triều vì sao lại hóa thành kẻ câm!”
Ông và Cốc Vi Chi vốn giao hảo, năm xưa Cốc Vi Chi vào Hộ bộ còn do ông một tay tiến cử. Vậy mà hôm nay, sự im lặng của Cốc Vi Chi trên triều khiến ông thất vọng vô cùng.
Cốc Vi Chi có khổ khó nói, chỉ đành quay đầu, dùng đầu ô chỉ thẳng vào Tạ Lãng Dương vừa bước ra khỏi điện: “Ngươi chờ đó! Ta muốn xem Tạ gia ở Nam Châu có chịu nổi Hộ bộ triệt tra hay không!”
Tạ Lãng Dương đưa tay lau bụi tuyết trên trán, không mảy may dao động trước cơn giận của Cốc Vi Chi. Trái lại, hắn nói với Lạc Minh Phố: “Trong triều nam phong đang dần nổi lên. Nhờ bệ hạ nhân từ nên chưa lập đại án để chấn nhiếp lòng người. Không bằng nhân cơ hội này, mượn Ôn Trác…”
Lạc Minh Phố cười lạnh, vỗ vai hắn: “Ta hiểu. Chờ Ôn Trác định tội xong, đám ruồi nhặng không chủ kia cũng hết khí số.”
Cung Tri Viễn vuốt chòm râu bị gió thổi rối, nhíu mày: “Chỉ tiếc hoàng thượng vẫn còn lưu tình với Ôn Trác. Không chỉ chuẩn Tam pháp ty hội thẩm, còn miễn cho hắn hình cụ.”
Tạ Lãng Dương không đáp, ánh mắt vượt qua đám người, rơi vào bóng lưng mảnh khảnh phía xa.
Giữa màn tuyết mịt mù, Ôn Trác càng đi càng xa. Chuỗi dấu chân nhạt rất nhanh đã bị tuyết mới phủ kín, khiến lòng hắn trống rỗng đến cực điểm.
Quãng đời còn lại… e rằng thật sự không còn cơ hội gặp lại.
Một trận gió lạnh bỗng cuộn đến, tuyết mù ập thẳng vào mặt. Tạ Lãng Dương giật mình tỉnh lại, nhìn thấy Cốc Vi Chi đã khôi phục vẻ điềm tĩnh, trong lòng đột nhiên dâng lên một nỗi bất an mãnh liệt. “Vừa rồi trên điện, vì sao Quân Định Uyên và Cốc Vi Chi không thay Ôn Trác cầu tình?”
Lạc Minh Phố khựng lại, rõ ràng không ngờ hắn đột nhiên hỏi vậy: “Chuyện này… bọn họ tự nhiên là sợ bị liên lụy.”
“Không phải!” Tạ Lãng Dương lập tức phủ nhận. Ít nhất Cốc Vi Chi tuyệt không sợ bị Ôn Trác liên lụy. Kiếp trước, hắn thà bị biếm chức, chết bệnh giữa đường, cũng không chịu dâng sớ đàn hặc Ôn Trác.
Tạ Lãng Dương quay mặt lại: “Điện hạ từng nói, một khi có người đứng ra cầu tình cho Ôn Trác, thì chẳng khác nào chứng thực hắn kết đảng tư lợi, tuyệt đối không phải cô thần. Khi đó hoàng thượng chỉ càng thêm nghi kỵ. Nhưng ban nãy Cốc Vi Chi tức giận đến thế, vậy mà trên triều lại nhẫn nhịn không nói một lời, trơ mắt nhìn Ôn Trác vào ngục… Thật quá khác thường.”
Sắc mặt Cung Tri Viễn cũng trầm xuống, nhìn sâu vào Tạ Lãng Dương: “Ngươi muốn nói gì?”
Tạ Lãng Dương từng chịu quá nhiều thiệt thòi dưới tay Ôn Trác, một lần bị rắn cắn mười năm sợ dây thừng. Hắn lo lắng nói: “Trừ phi Ôn Trác đã sớm biết ta sẽ đàn hặc hắn, sớm biết mình sẽ vào ngục. Hắn đã dặn trước Quân Định Uyên và Cốc Vi Chi, tuyệt đối không được mở miệng.”
Cung Tri Viễn: “Ý ngươi là hắn cam nguyện hy sinh một mình, chỉ để giữ lại lực lượng cho Ngũ điện hạ?”
Tạ Lãng Dương im lặng, không gật cũng không lắc.
Lần duy nhất Ôn Trác bó tay bất lực là khi bị người mình phản bội. Nay nếu hắn đã tính được cuộc đàn hặc hôm nay, sao lại ngồi yên chịu trói?Nhưng bức《Vãn Sơn phú》kia chữ là thật, tình là thật, chứng cứ xác thực — hắn lấy gì để lật bàn?
***************
Một lần nữa đứng trước cổng ngục Đại Lý Tự, cánh cửa kẽo kẹt mở ra, phả ra mùi mốc lâu năm lẫn huyết khí.
Ôn Trác không sợ hãi như tưởng tượng. Có lẽ vì sự tồn tại của Thẩm Trưng khiến những cơn ác mộng đã nhạt đi quá nửa.
Hắn hít sâu luồng không khí lạnh lẽo, bước vào hành lang tối om.
Tiết Sùng Niên đích thân đưa hắn vào, chọn một gian trong cùng, tránh gió lùa.
Chiếu cỏ ẩm dưới đất đã được thay mới, phía trên trải thêm lớp vải bố dày, dẫm lên mềm mại không cấn chân.Song cửa nhét bông kín mít, chỉ chừa khe hẹp thông khí.Nến cháy ổn định, soi sáng căn phòng nhỏ ấm áp.
Nhờ thánh ân, Ôn Trác không phải mang xiềng, không phải thay tù phục. Nhưng mặc triều phục đỏ của quan nhất phẩm trong ngục quả thực không thích hợp. Tiết Sùng Niên xoa tay khổ sở: “Ta đã sai người đến Ôn phủ, bảo Liễu cô nương mang hai bộ áo dày tới. Quan bào của ngài thấm tuyết, thay ra kẻo nhiễm lạnh.”
Đầu ngón tay Ôn Trác nắm chặt mép áo choàng, run khẽ. Hắn quỳ trên chiếu cỏ, đưa tay lại gần ngọn nến sưởi ấm, thấp giọng: “Đa tạ.”
Tiết Sùng Niên bảo ngục tốt mang nước nóng tới, nhân lúc không ai chú ý liền hạ giọng: “Chưởng viện, ta tuy là Đại Lý Tự khanh, nhưng Tam pháp ty hội thẩm, không thể vượt quyền. Trong ngục đơn sơ, cũng chỉ lo được đến vậy. Ngài còn thiếu gì, ta sẽ cố chu toàn.”
Ánh nến nhảy múa trên gương mặt Ôn Trác, phác họa đôi mày mắt nhu hòa. Hắn cười: “Đã rất tốt rồi.”
Thật sự là rất tốt.Kiếp trước, khi Thẩm Sân đăng cơ, bổ nhiệm Tạ Lãng Dương làm Thủ phụ, đẩy Cung Tri Viễn xuống làm Đại Lý Tự khanh, gạt Tiết Sùng Niên ra ngoài.Hắn từng bị hành hạ trong ngục này, sống không bằng chết.
Giờ có chiếu ấm, nước nóng, nến không tắt — hắn đã có thể nhẹ nhàng chống đỡ đến cùng.
“Ngày mai e là sẽ thẩm đường. Chưởng viện nên nghĩ cách ứng đối.” Tiết Sùng Niên dặn.
“Ừ, ta tự có tính toán.” Ôn Trác đáp.
************
Nhờ sự thu xếp của Tiết Sùng Niên, vừa khi Ôn Trác hắt hơi vì lạnh, Liễu Khởi Nghiêng đã vác một bọc đồ cao nửa người vội vàng chạy đến.
Ôn Trác nhìn “khối đồ khổng lồ” ấy, nhất thời không nói nên lời.
Thấy tóc hắn ướt sũng, Liễu Khởi Nghiêng lập tức dựng mày: “Đại nhân bị ướt?”
Ôn Trác do dự rồi gật đầu.
Liễu Khởi Nghiêng trừng mắt: “Vậy ta đi lừa lão lang trung vào đây ở cùng ngài cho tiện! Đại nhân cứ việc tùy ý giày vò thân mình!”
Ôn Trác suy nghĩ nghiêm túc: “Cũng được, ta thấy lão lang trung chịu đựng khá tốt.”
Liễu Khởi Nghiêng không chịu thôi, đảo mắt nhìn khắp căn ngục nhỏ, sờ tường đen sì, lật chiếu cỏ, miệng đầy chê bai: “Tường đen thế này dính thứ gì bẩn vậy? Chiếu cũng cứng quá. Đại nhân ngày thường kiêu chiều thế kia, ngủ nổi không? Với lại, từ lúc đến ta đã muốn nói — mùi gì mà ngột ngạt thế này, chẳng thông gió chút nào—”
“A Liễu.” Ôn Trác khẽ ngắt lời, “Đừng khóc.”
Liễu Khởi Nghiêng bỗng im bặt, cắn chặt môi, quay mặt đi.
“Việc ta dặn các ngươi có thể làm rồi.”
Nàng khịt mũi “Ừm” một tiếng nặng nề.
Ôn Trác trao lại áo choàng và quan bào ướt, khóe môi nhếch cười lạnh: “Yên tâm. Bao giờ ngươi thấy ta tính sai chưa? Ngày chết của Tạ Lãng Dương sắp đến rồi.”
Liễu Khởi Nghiêng mắt đỏ hoe nhưng miệng vẫn không nhường: “Đợi điện hạ từ Tân Hải về, ta nhất định mách ngài. Đại nhân cũng nên nghĩ xem ‘cái gì’ của mình sắp đến đi.”
Ôn Trác khó hiểu: “Ta thì có cái gì sắp đến?”
**************
Tiễn nàng rời đi, trong ngục lại chìm vào tĩnh lặng.
Ôn Trác không chống nổi nữa. Cổ họng ngứa ran, liên tiếp ho. Người khác ho vậy hẳn đã đỏ bừng mặt, hắn lại trắng bệch như giấy.
Đi một đường trong mưa tuyết, áo ướt quấn thân quá lâu — hàn chứng quả nhiên phát tác.
Lưng nặng như đè đá, toàn thân mềm nhũn. Hắn cuộn mình ngã xuống chiếu.
Trong ngục không có chăn dày, không có lò than, không có châm cứu của lão lang trung. Hắn chỉ có thể cắn răng chịu đựng.
Răng khẽ va vào nhau, đầu tựa chặt vào lớp vải bố dày, hai tay vô thức co vào ngực.
Bỗng nhiên, lòng bàn tay chạm phải hai vật cứng.
Hắn mở mắt, nghi hoặc lấy ra xem, nhờ ánh nến mới nhớ ra — là “miếng sưởi ấm” Thẩm Trưng đặc biệt làm cho hắn trước khi đi.
Tim khẽ rung. Hắn gượng ngồi dậy, vén chiếu cỏ lên — bên dưới lót cả một xấp dày.
Thảo nào Liễu Khởi Nghiêng cứ lật qua lật lại — hóa ra giấu cái này cho hắn.
Ôn Trác nhớ lời Thẩm Trưng, nửa tin nửa ngờ xé bao giấy, nới đai áo, cẩn thận dán miếng sưởi lên lớp áo trong.
Chỉ chút động tác ấy đã tiêu hao hết sức lực còn sót lại. Hắn lại nặng nề nằm xuống.
Vốn chẳng hy vọng gì, nào ngờ lát sau, nơi bụng dưới dần dần lan ra một tia ấm áp.
Ban đầu như đốm lửa nhỏ, dần tụ thành dòng ấm, theo kinh mạch lan khắp, từng chút xua đi hàn ý do tuyết ướt mang tới.
Cơn đau nhức cũng dịu đi quá nửa.
Hắn vô thức cong lưng, co chân, ôm chặt “miếng sưởi ấm”, như đang cuộn mình trong vòng tay Thẩm Trưng.
Trong mắt dâng lên nét dịu mềm.
Hắn thì thầm: “Điện hạ… hóa ra sắt… thật sự có thể phát nhiệt.”
Toi cũng khóc huống chi A Liễu 😭😭😭😭