top of page

Chương 119 - “Nửa tháng không được gặp, lòng ta vẫn luôn nhớ đến điện hạ.”

Chỉ trong vòng một canh giờ, toàn bộ người trong phủ hoàng tử chạy ngược chạy xuôi, chân không chạm đất.

Bọn thái giám hắt nước lạnh lên mặt, véo mạnh nhân trung, cuối cùng cũng gọi được Thẩm Sân tỉnh lại. Ngự y đeo hòm thuốc vội vã chạy tới, ba ngón tay đặt lên mạch, ngưng thần chốc lát rồi cuống quýt châm kim, kê đơn.

Lại có tiểu thái giám bưng nước ấm, dâng triều phục, bảy tay tám chân thay hắn rửa mặt chải đầu, chỉnh đốn y quan.

Cả phòng náo loạn như ong vỡ tổ, cuối cùng trước khi tới giờ Tỵ cũng miễn cưỡng chỉnh trang cho Thẩm Sân ra dáng người.

Thẩm Sân vội vàng húp bừa một bát cháo mặn, miệng còn nhét thức ăn đã xông ra ngoài, bước chân gấp đến mức như tóe lửa: “Nhanh! Nhanh nữa! Tuyệt đối không được lỡ lễ Tế Thiên, để bọn chúng có cớ bắt bẻ ta!”

Hắn hận mình nhất thời kích động đến ngất xỉu, chậm trễ mất hơn nửa canh giờ. Nay Thẩm Đỉnh đã kết oán với hắn, Thẩm Trưng lại coi hắn như kình địch. Lúc mấu chốt này chỉ cần sơ suất một chút, nhất định sẽ bị cắn trả một đòn.

Nếu vừa ra khỏi hậu tráo phòng đã lại lĩnh trách phạt, vậy thì đúng là họa chồng họa!

Thái giám phía sau vội vã đuổi theo, thở hồng hộc: “Điện hạ chớ gấp, giờ còn sớm…”

“Sớm cái rắm!” Thẩm Sân quát. “Phụ hoàng bệnh mới khỏi, sao có thể đứng lâu? Lễ Tế Thiên tất giản lược quy trình, hoàng tử cùng bá quan bái xong là xong. Trễ thêm nữa là không kịp!”

Thái giám lắp bắp giải thích: “Không phải… Năm nay đại điển long trọng gấp trăm lần mọi năm. Hoàng thượng ngự tọa chính giữa, Thái tử hành lễ á hiến, thay trời chăn dân, ba quỳ chín lạy, dâng tước dâng tế phẩm, sau đó mới đến lượt các hoàng tử và bá quan triều bái…”

Thẩm Sân chỉ lo chạy, nghe không trọn, lập tức quát: “Nói bậy! Phế Thái tử bị giam ở Phượng Dương đài gần hai năm, lấy đâu ra chuyện thay trời chăn dân!”

Thái giám lập tức im bặt, mồ hôi lạnh túa ra trên trán. Hắn quên mất — vị này vừa được thả khỏi hậu tráo phòng, còn chưa biết chuyện Hoàng thượng đã lập Thái tử mới.

Ngoài Phụng Thiên điện, lụa đỏ giăng cao, đèn lồng xếp hàng, bá quan nghiêm chỉnh đứng chờ.

Thẩm Sân thấy nghi thức còn chưa bắt đầu, tảng đá trong lòng tạm rơi xuống. Hắn định chen vào hàng ngũ, vừa ngẩng mắt nhìn đã như bị sét đánh ngang đầu, máu trong người đông cứng.

Trên đan bệ, long ỷ màu minh hoàng đặt ở chính giữa, Thuận Nguyên Đế vẫn chưa tới. Nhưng bên cạnh ngự tọa, lại chỉ đứng duy nhất một người.

Người ấy đầu đội mũ miện cửu lưu [1], tua đỏ rủ xuống hơi che đi sự sắc sảo; thân mặc hắc bào cửu chương văn [2], hạ thường màu huân sắc kéo dài chạm đất; thắt đai ngọc buộc gọn thân hình thẳng tắp; chín bộ ngọc bội va nhau leng keng, tôn lên vẻ uy nghi tôn quý, không thể xâm phạm.

[1] Mũ miện cửu lưu

[2] hắc bào cửu chương văn

Toàn thân hắn rõ ràng là Thái tử miện phục!

Hai mắt Thẩm Sân gần như nứt toác, khí huyết dâng trào lên đỉnh đầu. Hắn chộp lấy một quan viên bên cạnh, giận dữ quát: “Thẩm Trưng sao dám mặc phục sức này đứng bên phụ hoàng! Cửu chương văn chỉ dành riêng cho Thái tử! Hắn là một hoàng tử, chẳng lẽ không sợ tội khi quân phạm thượng?!”

Quan viên kia chức thấp quyền nhỏ, bị hoàng tử túm cổ như vậy sợ đến hồn bay phách lạc, vội cúi rạp giải thích: “Điện… điện hạ… Theo luật Đại Càn, Thái tử mặc miện phục cửu chương là chuyện thiên kinh địa nghĩa.”

“Thái tử?!” Thẩm Sân như bị một búa giáng xuống, trợn mắt sững sờ.

Hắn nhớ kiếp trước, phụ hoàng đến chết cũng chưa từng lập lại Thái tử, trước lúc lâm chung mới truyền ngôi cho hắn.

Hắn tuy tiếc nuối, nhưng cũng hiểu phụ hoàng vì niệm tình cha con với phế Thái tử, không nỡ để danh vị Thái tử cuối cùng của Thẩm Trinh cũng bị thay thế.

Vậy mà kiếp này… phụ hoàng lại lập Thái tử mới?

Lại còn lập Thẩm Trưng làm Thái tử?!

Lạc Minh Phố từ xa trông thấy Thẩm Sân, vội chen tới. Nhớ đến tình nghĩa từng phụ tá, hắn khẽ thở dài, kéo Thẩm Sân đang lộ rõ vẻ thất thố sang một bên.

Vừa cúi đầu đưa hắn tiến về phía trước, vừa ghé tai nói nhỏ: “Điện hạ bị giam lâu ngày nên không hay biến cố bên ngoài. Ngũ điện hạ đã được sắc phong Hoàng Thái tử từ một tháng trước. Hoàng thượng cho phép ngài ấy giám quốc lý chính, đã thay quyền chấp chưởng triều cương nhiều ngày.”

“Không thể nào!” Thẩm Sân nghiến răng, hai lúm đồng tiền lõm sâu khẽ run.

Lạc Minh Phố trầm giọng: “Điện hạ, sự đã đến nước này, không thể xoay chuyển nữa. Nếu người muốn biết thêm, sau đêm Giao thừa, thần có thể sắp xếp để điện hạ gặp Tạ thượng thư một lần. Chỉ e… là lần cuối.”

Hai mắt Thẩm Sân lập tức đỏ ngầu như rỉ máu, lồng ngực phập phồng dữ dội: “Ngươi biết cái gì! Ngươi có biết ta mới là—”

Lời còn chưa dứt.

Thuận Nguyên Đế đã được Thẩm Trưng dìu, chậm rãi ngồi lên long ỷ.

Bá quan đồng loạt nín thở, chỉnh trang y quan, cùng quỳ xuống, hành đại lễ năm bái ba khấu: “Chúng thần kính chúc bệ hạ tân niên đại cát, thánh thể khang thái!”

Lạc Minh Phố âm thầm kéo một cái, Thẩm Sân lảo đảo quỳ xuống, vội vàng dập đầu sát đất, cung kính hành lễ.

Lễ xong đứng dậy, còn chưa kịp thở, đã thấy bá quan đồng loạt xoay người, hướng về Thẩm Trưng trên bậc thềm, lại bốn bái: “Kính chúc Thái tử điện hạ phúc vận hanh thông, minh đức chiêu chương!”

Thẩm Trưng đứng trên cao, nhìn xuống quần thần, tựa mặt trời rực giữa không trung, uy nghi sáng lòa, khiến người ta không dám nhìn thẳng.

Trong lòng Thẩm Sân cuộn trào phẫn uất.

Hắn không ngờ Thẩm Trưng hiện giờ lại giỏi giả vờ đến vậy!

Bắt hắn hành lễ với Thẩm Trưng?

Cúi đầu xưng thần trước kẻ lẽ ra phải là bại tướng dưới tay hắn?

Tuyệt đối không thể!

Hắn mặt lúc xanh lúc trắng, thái dương giật thình thịch, trợn mắt nhìn trừng trừng, nhất quyết không chịu cúi đầu.

Khóe mắt Thẩm Trưng liếc thấy, đột nhiên ánh nhìn trở nên sắc lạnh, không nói một lời.

Chỉ một ánh mắt ấy, Thẩm Sân bỗng cảm thấy một luồng hàn ý từ gan bàn chân lan lên, bò thẳng tới tim, đến cả hơi thở cũng như lẫn mùi máu.

Sắc mặt hắn trắng bệch, hai đầu gối mềm nhũn không nghe sai khiến, chẳng hiểu vì sao đã quỳ sụp xuống đất.

***************

Cả dịp Tân niên, Thẩm Sân sống trong trạng thái mơ hồ hoảng hốt.

Qua mồng một, Lạc Minh Phố lợi dụng chức vụ, đưa hắn vào đại lao Đại Lý tự.

Vừa bước qua cửa, mùi hôi tanh ngột ngạt ập thẳng vào mặt, suýt nữa khiến Thẩm Sân sặc đến lảo đảo.

Trên tường treo đầy hình cụ thấm máu. Từ sâu trong ngục đạo vọng ra tiếng gào khóc như quỷ hú, khiến lông tóc toàn thân hắn dựng đứng.

Rẽ trái rẽ phải, xuyên qua mấy lớp cửa ngục ẩm lạnh, cuối cùng cũng dừng lại trước cửa lao của Tạ Lãng Dương.

Thẩm Sân đưa mắt nhìn, suýt chút nữa không nhận ra.

Dáng vẻ Tạ Lãng Dương thảm hại đến mức khó tin.

Hắn tóc tai rũ rượi, mái tóc khô như rơm rạ quấn vào nhau bừa bãi. Đôi mắt từng sáng quắc, giờ u ám như hòn đá đen phủ bụi.

Trời đầu năm rét cắt da, ô cửa đá chỉ bằng chiếc mâm nhỏ rỉ từng luồng gió lạnh, cuốn theo vài hạt tuyết vụn bay vào.

Bộ tù phục trên người hắn rách nát tả tơi, vai áo toạc chỉ, lộ ra làn da tím tái vì lạnh.

Cả người hắn nằm sấp trên chiếu rơm ẩm ướt. Một chân vặn vẹo dị dạng, cổ họng thỉnh thoảng bật ra tiếng rên khàn khàn vỡ vụn.

Trên người hắn không còn thấy nửa phần phong thái thủ phụ ngày xưa — tiêu sái, nghiêm trang.

Thẩm Sân nhất thời nghẹn lời: “Ngươi—”

Tạ Lãng Dương nhờ ánh nến leo lét, chậm rãi ngẩng đầu. Vừa trông thấy Thẩm Sân, trong đôi mắt đục ngầu bỗng lăn xuống hai hàng lệ bi phẫn: “Điện… hạ… cứu ta!”

Hắn cố gắng giãy giụa, muốn bò về phía Thẩm Sân. Lúc ấy Thẩm Sân mới nhìn rõ — hai chân hắn đã hoàn toàn không nghe sai khiến, hiển nhiên từng chịu cực hình.

Tạ Lãng Dương dốc hết sức lực, chồm lên chụp lấy song gỗ cửa lao, như lệ quỷ đòi mạng, dọa Thẩm Sân theo bản năng lùi lại một bước.

“Tạ khanh, sao ngươi lại thành ra thế này?” Tim Thẩm Sân lạnh đi một nửa.

Trước khi đến, hắn đã nghe Lạc Minh Phố nói — Tạ Lãng Dương bị định tội chết, cuối thu sẽ xử trảm.

“…Là Ôn Trác đẩy ta vào chỗ chết!” Tạ Lãng Dương lấy đầu đập mạnh vào song gỗ, trán bầm tím một mảng. Hắn nghẹn ngào, đứt quãng kể lại tiền căn hậu quả.

Thẩm Sân nghe xong chấn động đến tột độ. Nếu không bám vào song gỗ, e đã ngã quỵ xuống đất.

Hắn vạn lần không ngờ Ôn Trác lại có thể trong cục diện tất tử ấy tìm ra lối thoát, phản công một đòn, chém đứt toàn bộ đường lui của họ.

Chỉ là hắn nghĩ mãi không ra, Ôn Trác rốt cuộc làm cách nào bịa đặt được lời đồn hoang đường đến vậy, dám nói mình giống Thần phi?

Nhưng giờ đây, những chuyện ấy đã không còn quan trọng.

Quan trọng là phụ hoàng tin y, che chở y — còn Tạ Lãng Dương thay y gánh hết tội danh.

Thẩm Sân trầm mặc hồi lâu, bỗng nhếch môi cười. Nụ cười còn khó coi hơn khóc, hai má lõm hằn lên nếp gấp.

“Thẩm Trưng đã thành Thái tử. Ta nay cô thân quả thế, thân bất do kỷ. Lấy gì cứu ngươi?”

Trong mắt Tạ Lãng Dương lập tức bùng lên oán hận ngút trời. Kẽ móng tay hắn rịn máu bầm vì siết chặt song gỗ, nhưng dường như chẳng hề hay biết, chỉ liều mạng áp sát mặt vào cửa lao, ánh mắt nhìn chòng chọc Thẩm Sân: “Điện hạ mang mệnh trời trong thân, sao có thể dễ dàng bỏ cuộc! Ta ở trong ngục suy nghĩ nhiều ngày, phát hiện chúng ta vẫn còn một tia sinh cơ cuối cùng — có thể xoay chuyển càn khôn, lật bàn phản—”

Thẩm Sân nghe đến đây tim đập dồn dập, ánh mắt rực cháy: “Mau nói!”

Tạ Lãng Dương nghẹn họng, sắc mặt phức tạp như bị thứ gì chặn lại. Hắn cố nhẫn nhục: “Thẩm Trưng… hắn ở trong ngục chính miệng thừa nhận với ta — hắn và Ôn Trác sớm đã tư thông, dâm loạn không chịu nổi!”

Thẩm Sân hoàn toàn sững sờ.

Bọn họ rốt cuộc là điên rồi sao? Hết người này đến người khác đều cam tâm tình nguyện làm chuyện cẩu thả với Ôn Trác!

Trên đời nữ tử ngàn vạn, chẳng lẽ còn không bằng gương mặt của Ôn Trác?

Một cơn buồn nôn dâng lên cổ họng, Thẩm Sân suýt nữa tại chỗ nôn ra.

“Dù lời ngươi nói là thật hay giả, chuyện này nếu truyền ra ngoài, ai sẽ tin?” Thẩm Sân dựng mày quát. “Hiện giờ trong mắt phụ hoàng, ta chỉ là kẻ xảo biện. Nếu ta tùy tiện đem lời này tâu lên, người tất cho rằng ta muốn hãm hại Thẩm Trưng!”

Tạ Lãng Dương cúi mắt, hít thở mấy lần, cố gắng chịu đựng cơn đau từ hai chân.

Hắn khẽ nói: “Điện hạ quên rồi sao? Đến nay Thẩm Trưng vẫn chưa cưới vợ. Mà năm Thuận Nguyên thứ hai mươi lăm, sau khoa cử… còn một chuyện lớn.”

Thẩm Sân sững người một lát, rất nhanh đã nhớ ra.

Mùa xuân năm Thuận Nguyên thứ hai mươi lăm, Thát Đát sai sứ sang Đại Càn — cầu cưới Chiêu Nguyệt công chúa.

Bọn họ nguyện tôn Đại Càn làm thiên triều thượng quốc, lấy ngựa bò dê đổi lấy tơ lụa trà lá Trung Nguyên, chỉ cầu mở cửa hỗ thị, cùng Đại Càn vĩnh kết minh hảo.

Thuận Nguyên Đế vốn đã hiểu, Thát Đát không thể diệt tận, chỉ có thể cùng tồn tại.

Nay đối phương chủ động cầu hòa, căn bản không có lý do cự tuyệt. Việc này không chỉ tiết kiệm quân phí, mà còn giúp dân chúng nghỉ ngơi dưỡng sức.

Bỏ ra một vị công chúa, đổi lấy nhiều năm thái bình, là cuộc mua bán có lời đến mức không thể hơn.

Ông gả Chiêu Nguyệt công chúa sang đó, nhưng đối với “Minh Châu bộ lạc” mà Thát Đát dâng tới lại hứng thú nhạt nhẽo.

Sứ thần Thát Đát nói, Minh Châu kia từ nhỏ đã quyến rũ, thân mang hương thơm tự nhiên, mê hoặc lòng người. Nay dâng lên hoàng đế Đại Càn, chỉ để biểu thị thành ý.

Thuận Nguyên Đế tuổi đã xế chiều, sớm không còn tiêu thụ nổi. Huống hồ ông vốn chẳng ham mê sắc đẹp, nạp phi chỉ là gánh vác trách nhiệm hoàng đế, nối dài huyết mạch hoàng thất.

Ông nhiều lần từ chối, nhưng thịnh tình khó thoái, cuối cùng vì đại cục liên minh, đành miễn cưỡng nhận lấy vị Minh Châu này.

Kết quả, Minh Châu vừa gả sang chưa bao lâu, Thuận Nguyên Đế đã băng hà. Nàng thậm chí một lần được triệu kiến cũng chưa có.

Thẩm Sân chợt thông suốt, đồng tử co rút: “Ý ngươi là—”

Trong mắt Tạ Lãng Dương lộ ra vẻ lạnh lẽo âm u. Hắn chậm rãi vuốt dọc song lao, lưng dựa tường, ánh mắt ngước về vệt trời nhỏ nơi cửa sổ.

“Nếu bệ hạ vô ý với Minh Châu Thát Đát, chuyển ban cho Đông Cung cũng hợp tình hợp lý. Vừa không mất thể diện Thát Đát, lại trọn lòng Đại Càn. Nếu Thẩm Trưng nạp nàng, ắt sinh hiềm khích với Ôn Trác, cuối cùng tan rã — ta chính là vết xe đổ. Nếu hắn không nạp, bệ hạ tất sinh nghi. Khi ấy khốn cục của ta tự giải.”

“Ta có thể ở trong lao viết một phong thư tay. Điện hạ âm thầm sai Lạc thượng thư dâng lên bệ hạ. Không cầu bệ hạ tin sâu, chỉ mong người nhìn thấy chữ, lưu lại chút ấn tượng. Đợi khi Thát Đát triều kiến, nếu bệ hạ có chút do dự, điện hạ liền tiến lời, xin chuyển Minh Châu ban cho Thái tử.”

**************

Sau Nguyên nhật, cổng trường thi sắp phong bế. Ngày cuối cùng, Ôn Trác vào Đông Cung gặp Thẩm Trưng.

Y cùng Quách Bình Mậu và Lam Giáng Hà bước vào Văn Hoa Điện, chúc mừng năm mới Thái tử.

Nhìn xà cột nguy nga, đàn hương lượn khói, Ôn Trác suýt nghẹn lời.

Cuối cùng cũng không phải đến chịu phạt — mà là đàng hoàng làm tròn bổn phận làm thầy!

Trên đường, Quách Bình Mậu và Lam Giáng Hà trò chuyện không ngớt.

Một người nói: “Dạo này vướng bận nhiều việc, ta chẳng giảng cho Thái tử được mấy lần, thật hổ thẹn.”

Người kia cười: “May có Ôn chưởng viện chống đỡ. Người trẻ chịu được vất vả, thay chúng ta gánh vác không ít.”

Ôn Trác ôm tập chữ trong lòng, nghe câu “người trẻ chịu được vất vả” mà càng nghe càng chói tai.

Lam Giáng Hà quay sang hỏi: “Chưởng viện chắc để lại cho Thái tử không ít bài tập? Có thể trao đổi đôi điều, để sau này khỏi giảng trùng lặp.”

“Không trùng.” Ôn Trác không ngẩng đầu, môi mím thành một đường thẳng.

Quách Bình Mậu hơi ngạc nhiên. Nội dung giảng học chẳng qua kinh sử tử tập, trị quốc phương lược — sao lại chắc chắn không trùng?

Ông còn định hỏi kỹ, thì Thẩm Trưng đã từ ngoài nhanh bước vào.

Trên người hắn không phải triều phục, mà là bộ kình trang đen mặc khi cưỡi ngựa, vạt áo còn vương chút hàn khí.

“Ba vị tiên sinh đến sớm thật.” Ánh mắt Thẩm Trưng lướt qua ba người, dừng lại nơi Ôn Trác một thoáng, đáy mắt lướt qua ý cười khó nhận ra.

Ba người vội cúi mình hành tứ bái lễ, Thẩm Trưng đưa tay đỡ: “Năm mới khởi đầu, các tiên sinh vất vả, không cần đa lễ.”

Quách Bình Mậu lấy từ tay áo một tập mỏng, mỉm cười: “Thái tử nhật lý vạn cơ. Trước năm lão phu chưa tận tâm giảng học, trong lòng bất an. Nay dâng ‘Biên phòng sách’, mong điện hạ tu võ bị, phòng biên hoạn, ghi nhớ hiểm họa Thát Đát, bảo hộ cương thổ Đại Càn.”

Thẩm Trưng trịnh trọng nhận lấy: “Tiên sinh có lòng. Ta sẽ đọc kỹ.”

Hắn khẽ hất cằm, Hoàng Đình lập tức dâng lên bản chép kinh cổ đã đóng thành tập.

Lam Giáng Hà cười: “Quách đại nhân lo xa thật. Lão phu không có vật quý, chỉ liệt kê vài sách nên đọc đầu năm, mong điện hạ chuyên cần không ngừng.”

Thẩm Trưng gật đầu: “Ta sẽ đọc theo danh sách.”

Hoàng Đình lại dâng túi phúc năm mới.

Hai người xong lễ, đồng loạt nhìn sang Ôn Trác.

Thẩm Trưng cũng đưa mắt nhìn y, ý vị trêu chọc nơi đáy mắt: “Lão sư định dâng lễ gì?”

Ôn Trác nhìn thẳng hắn, đưa bảng chữ mẫu trong tay: “Vi sư soạn cho điện hạ một bảng chữ mẫu, để điện hạ lấy mẫu luyện tập. Mong điện hạ siêng năng, sớm có thành tựu.”

Lam Giáng Hà hứng thú: “Nghe nói chữ của Ôn chưởng viện tú nhuận mà cứng cáp, ẩn tàng pháp độ. Không biết viết điển tịch nào? Có thể cho lão thần mở mang tầm mắt?”

Ông đưa tay định lật.

Tai Ôn Trác đỏ bừng, “bốp” một tiếng ấn mạnh tập chữ xuống bàn, cố giữ bình tĩnh: “Chữ xấu thô lậu, không bằng bút mực của Lam đại nhân, chỉ đủ cho điện hạ mới học.”

Thẩm Trưng bảo y chép lại mười phong thư kia thành tập chữ — nội dung sao có thể cho người khác xem!

Lam Giáng Hà lại hỏi Thẩm Trưng: “Trước năm, sau mỗi buổi triều, Thái tử thường mời Ôn chưởng viện ở lại Đông Cung. Không biết hai vị bàn luận phương diện học vấn nào?”

Ôn Trác đột nhiên ngẩng mắt, đỏ từ tai lan sang má, không thể tin nổi nhìn Lam Giáng Hà.

Lão nhân gia tuổi đã cao, sao hiếu kỳ đến vậy?!

Thẩm Trưng thản nhiên đáp: “Ta và Ôn chưởng viện từng cùng đến Miên Châu cứu tế, tận mắt thấy dân gian khổ cực, ấn tượng rất sâu. Cuối năm nghe tin Miên Châu, Bình Châu, Huỳnh Kinh đã đo đạc lại ruộng đất, định lại Hoàng sách, nên giữ Ôn chưởng viện lại bàn thêm về cải lương giống lúa, tích trữ lương thực.”

Hắn liếc nhìn Ôn Trác, giọng trêu: “Lão sư còn tặng ta một bản ‘Nông tang tập yếu’, tổng cộng mười chương, chữ nào cũng tinh túy — đúng không?”

Ôn Trác ngước mắt nhìn trần nhà, giả vờ không nghe.

Lam Giáng Hà gật gù: “Ra là vậy.”

Hoàng Đình cũng lẩm bẩm: “Ra là vậy.”

Chỉ là hắn thắc mắc — hắn cũng đi cứu tế, cũng quan tâm Huỳnh Kinh và Miên Châu, sao lần nào điện hạ cũng đuổi hắn ra ngoài?

****************

Nửa canh giờ sau, điện dần lắng xuống.

Quách Bình Mậu đứng dậy: “Điện hạ đầu năm bận rộn, nên nghỉ sớm. Lão thần xin cáo lui.”

Lam Giáng Hà cũng cáo từ.

“Vậy ta cũng đi.” Ôn Trác đứng dậy theo.

Thẩm Trưng khẽ ho một tiếng. Ôn Trác liếc hắn.

Hoàng Đình chủ động tiễn ba vị tiên sinh ra ngoài.

Đi được một đoạn, Ôn Trác đột nhiên dừng bước: “Ta quên nói với điện hạ một việc, quay lại một chút.”

Nói xong liền quay đầu trở lại, bước chân vội vàng.

Vừa vào điện, đã thấy Thẩm Trưng đứng chờ sẵn.

Thẩm Trưng mở rộng vòng tay.

Ôn Trác bước nhanh mấy bước, lao vào lòng hắn. Thẩm Trưng vững vàng đỡ lấy, thân mật vuốt ve.

Ôn Trác ngẩng cổ, Thẩm Trưng cúi xuống, hôn lên môi y.

Môi răng quấn quýt, triền miên lưu luyến.

“Cuối cùng lão sư dâng lễ vật gì?” hồi lâu sau Thẩm Trưng mới buông ra.

Thẩm Trưng đã lén xem tập chữ — đúng là chép theo mười phong thư kia, chỉ là cuối mỗi bức đều thêm một câu: “Điện hạ hỗn đản.”

“Ta.” Ôn Trác nâng đôi mắt hàm tình, khẽ nói một chữ.

Thẩm Trưng cười sâu: “Lễ tốt. Ta xin nhận.”

Nói rồi giả vờ bế y về tẩm điện.

Ôn Trác hoảng hốt, đẩy vai hắn: “Điện hạ, dấu vết trên người ta còn chưa tan. Ngày mai phải vào trường thi rồi!”

Thẩm Trưng dừng bước, ánh mắt sâu xa: “Vậy lão sư còn trêu ta.”

Ôn Trác hạ mắt, vòng tay qua cổ hắn, kéo gần khoảng cách, thì thầm: “Nửa tháng không được gặp, lòng ta vẫn luôn nhớ điện hạ.”

“Ta cũng sẽ nhớ ngươi.” Thẩm Trưng vuốt tóc y, khẽ hít hương thuốc nhàn nhạt trên người y.

“Còn gì nữa?” Ôn Trác nghi ngờ nhìn lên.

Thẩm Trưng bật cười: “Lão sư thật vô lý. Nói lễ là mình, lại không cho ăn, còn đòi ta nói thêm.”

Ôn Trác hơi bất mãn: “Điện hạ vốn giỏi nói lời âu yếm…”

Thẩm Trưng gật đầu, rồi đột nhiên nghiêm sắc mặt, ánh mắt vô cùng chân thành, chậm rãi nói từng chữ: “Vãn Sơn, ta mong ngươi chủ khảo xuân vi, làm gương cho sĩ tử thiên hạ. Dưới môn hạ ngươi anh tài đầy rẫy, đều là lương đống quốc gia. Ta mong văn chương của ngươi lưu danh thiên cổ, hậu thế chiêm ngưỡng, danh vọng văn đàn cao nhất. Ta còn mong tên ngươi khắc vào thanh sử, thành một đời hiền thần, sánh ngang Quản Yến, để trọn chí bình sinh.”

Ôn Trác quả nhiên động lòng, vành mắt hơi nóng, môi khẽ cong hài lòng.

Chí hướng cả đời y, kiếp trước chưa từng có ai đặt trong tim. Đến cuối cùng, chính y cũng dần quên mất.

Nay mây tan trăng sáng, y rốt cuộc có thể trở về thuở ban đầu nhập sĩ, đối diện chí nguyện năm xưa.

“Điện hạ quả nhiên biết nói.”

“Lời hay nói xong rồi, có muốn xem vật hay không?” Thẩm Trưng cười ranh mãnh.

“Hửm?”

Hắn quay lại, lấy từ túi lông cừu mang vào một bọc giấy dầu.

Lớp lông giữ ấm kỹ lưỡng, giấy dầu còn ấm, từ khe hở tỏa ra mùi thơm ngọt ngào.

Ôn Trác vừa ngửi đã biết: “Bánh thạch táo? Điện hạ khi nào…”

Thẩm Trưng mở giấy, đưa một miếng đến bên môi y: “Nếu không, lão sư nghĩ ta sáng sớm cưỡi ngựa ra ngoài là vì điều gì?”

Recent Posts

See All

Comments

Rated 0 out of 5 stars.
No ratings yet

Add a rating
bottom of page