Chương 123 - “Nếu đã vậy, ta sẽ ban thêm cho hắn một con đường thông thiên.”
- Yuu Hibari
- Apr 8
- 13 min read
Ôn Trác ngồi thẳng dậy, cổ tay thon dài khẽ đặt lên đầu gối, đầu ngón tay vô thức điểm nhẹ trong không trung.
Mỗi khi cân nhắc kế sách, ánh mắt hắn thường khẽ động, như thể đang xâu chuỗi từng manh mối trong đầu, kết nối chúng thành một lối đi khả thi.
Ánh sớm đã lên cao, trong phòng phảng phất hương sương mai. Hắn im lặng rất lâu.
Thẩm Trưng không dám ngắt lời, chỉ lặng lẽ ngồi bên chờ đợi.
Ước chừng qua nửa tuần hương, một vệt nắng ấm xuyên qua song cửa, rót xuống bàn án thành một đường ánh vàng.
Ôn Trác cuối cùng cũng dừng đầu ngón tay lại, ngẩng mắt nhìn Thẩm Trưng.
“Ta là người trọng sinh, điện hạ là người của hậu thế. Trong ký ức của điện hạ, biểu văn đến kinh thành vào ngày nào?”
“Mười một tháng tư.”
Ngày tháng ấy không sai một ly so với ký ức của Ôn Trác. Nói cách khác, bọn họ còn bảy ngày để mưu tính.
“Điện hạ tuy thấu hiểu chuyện hậu thế, nhưng muốn khiến bệ hạ tin phục tuyệt không phải việc dễ. Thát Đát và Nam Bình khác nhau một trời một vực. Nam Bình có kinh đô, có quy chế tương tự Đại Càn, có bách tính an cư lạc nghiệp, có đồng ruộng ngàn dặm, khí hậu ôn hòa. Đại Càn giao chiến với Nam Bình, chẳng qua mỗi bên đều muốn thôn tính lãnh thổ, cướp đoạt lợi ích của đối phương mà thôi.”
Thẩm Trưng gật đầu. Chính vì văn hóa và thể chế tương cận, Đại Càn và Nam Bình về sau mới dần dung hợp, trở thành một thể.
Ôn Trác tiếp lời: “Còn các bộ tộc Thát Đát lấy lều trời làm nhà, theo đồng cỏ và nguồn nước mà di cư. Một khi ẩn vào sa mạc mênh mang, liền như cát chảy tan dấu, không thể truy tìm. Họ từ lâu đã ngưỡng mộ lãnh thổ rộng lớn, khí hậu ôn hòa của Đại Càn, lại thèm khát sản vật phong phú Trung Nguyên. Họ biết rõ thực lực không đủ, khó thể tranh phong cùng Đại Càn, nhưng vẫn nhiều lần xâm nhiễu biên cảnh, cướp bóc lê dân — bởi đó là nhu cầu sinh tồn, buộc họ phải làm.”
“Nhưng ngoài quan ải khí hậu khắc nghiệt, một năm năm mươi tuần gió tuyết, đất rộng người thưa, thổ nhưỡng cằn cỗi. Đại Càn không đủ lực cũng chẳng muốn dốc trọng binh trấn áp, nên giữ mà không đánh, để củng cố biên giới. Đó cũng là lý do thời Khang Trinh, Vĩnh Ninh hầu và Lưu quốc công thiếu một không được — một người giỏi giữ ải, một người giỏi phá thành. Một nam một bắc, cùng duy trì thế cân bằng của Đại Càn. Đáng tiếc cân bằng ấy đã bị Hoàng thượng phá vỡ.”
“Cân bằng đã vỡ, tất phải bù đắp. Trong lòng Hoàng thượng, hơn cả quần thần, càng muốn triệt để diệt trừ họa Thát Đát. Nếu ngài còn chưa định sách, chúng ta có thể thuận thế dẫn dắt, mưu định rồi mới động. Nhưng nếu trong lòng ngài đã sớm có quyết đoán, mà ta lại cùng ngài tranh luận phải trái, ắt sẽ chạm vào cơn giận của ngài — không những việc chẳng thành, còn chuốc họa vào thân, được chẳng bù mất.”
Tim Thẩm Trưng chùng xuống. Theo phân tích của Ôn Trác, Thuận Nguyên Đế và Thát Đát ở một mức độ nào đó dường như là một kiểu “song hướng lao tới”.
Hắn sao lại không hiểu — ngồi ở vị trí ấy, không thể chu toàn tất cả. Sau này, dù hắn thi hành chính sách gì, đưa ra quyết định nào, cũng khó tránh khỏi phụ lòng một số người. Bởi vậy mới nói, hạt cát của thời đại, rơi lên đầu một cá nhân, liền thành một ngọn núi lớn.
Nhưng hắn rốt cuộc không nỡ để Chiêu Nguyệt rơi vào kết cục như thế.
Hắn không còn là kẻ đứng ngoài nhìn qua trang sách, mà là người thật sự đang đứng ở đây.
Nếu chưa từng thấy cô bé cười lanh lảnh trong Ngự hoa viên, vì kẹo lê thu mà hớn hở nhảy nhót — thì Chiêu Nguyệt đối với hắn có lẽ chỉ là một trong vô số bi kịch giữa dòng chảy lịch sử, là một mảng sắc tàn khốc cấu thành sự phức tạp và nặng nề của lịch sử, để hậu thế có thể nhìn rõ hơn kết cấu nhân tính và đế chế phong kiến.
Hắn từng say mê sức hấp dẫn của lịch sử, từ những sinh tử thăng trầm ấy mà cảm nhận sự bao la của gia quốc thiên hạ.
Ngàn năm chữ nghĩa từng làm phong phú sâu sắc hơn hai mươi mấy năm sinh mệnh của hắn.
Nhưng giờ đây, vận mệnh đẩy hắn lên chuyến xe đang lăn bánh ấy, còn Chiêu Nguyệt bị đặt trên đường ray. Hắn không còn là kẻ ngoài cuộc, mà là người thật sự có thể quyết định số phận nàng.
“Vậy nên Chiêu Nguyệt nhất định phải xuất giá.” Giọng Thẩm Trưng khàn lại, hóa thành một tiếng cười khổ. “Bởi điều đó phù hợp với lợi ích của phụ hoàng. Dẹp yên họa Thát Đát là công tích của người. Được man di triều bái, cũng thỏa mãn lòng hư vinh của người.”
Ôn Trác thu hết sự mềm lòng và giằng co trong mắt hắn, tim khẽ động.
Hắn có chút tò mò — rốt cuộc Thẩm Trưng lớn lên trong hoàn cảnh thế nào? Hậu thế rốt cuộc là bộ dạng ra sao, mới có thể sinh ra một người khác biệt đến vậy?
Ôn Trác chậm rãi quỳ ngồi trên giường, dáng vẻ đoan chính mà ấm áp. Hắn khẽ mở rộng hai tay, dịu dàng ôm lấy vai lưng Thẩm Trưng, giọng điềm tĩnh mà chắc chắn: “Có ta ở đây, nhất định sẽ không để điện hạ khó xử.”
Trong mắt Thẩm Trưng lập tức bừng lên một đốm sáng. Hắn nâng hai tay nâng lấy gò má Ôn Trác: “Lão sư đã có kế sách rồi sao?”
Ôn Trác không đáp thẳng, chỉ nói: “Điện hạ có thể dặn Quân tướng quân, từ Nam cảnh chọn một người đáng tin, thay ta gửi một phong thư cho Ô Kham.”
“Ô Kham?” Thẩm Trưng khẽ nhướng mày, lập tức phản ứng, “Sứ giả Nam Bình từng đến kinh dự Hội cờ Xuân Đài?”
Ôn Trác gật đầu: “Ừm. Điện hạ đã biết quá khứ của ta, ta cũng không cần giấu. Khi ấy ta từng đạt thỏa thuận với hắn, hắn mới chịu thay chúng ta thúc đẩy chuyện Mặc Thư.”
“Lần này lão sư định làm thế nào?” Thẩm Trưng tò mò vô cùng.
Ôn Trác khẽ nhếch môi, đáy mắt lóe lên tinh quang, điềm nhiên nói: “Từ xưa phá liên minh, không ngoài ba sách: uy hiếp, lợi dụ, ly gián. Binh pháp có câu ‘Bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã’*. Nếu đã vậy, ta sẽ tặng hắn thêm một con đường thông thiên.”
*"Bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã" (不戰而屈人之兵, 善之善者也) là câu nói nổi tiếng trong thiên Mưu công của Binh pháp Tôn Tử, nghĩa là: "Không đánh mà khuất phục được quân địch, mới là phương sách tối thượng". Đây được coi là đỉnh cao của mưu lược quân sự và kinh doanh, đề cao chiến thắng bằng mưu trí, ngoại giao hoặc tâm lý chiến, giúp tiết kiệm nguồn lực và bảo toàn quân sĩ.
Nghe xong toàn bộ mưu hoạch của Ôn Trác, nỗi nôn nóng trong lòng Thẩm Trưng hoàn toàn tan biến. Hắn vùi đầu vào hõm cổ Ôn Trác, hơi thở phả lên làn da mịn màng, tóc cọ vào phần thịt mềm nơi cổ, khẽ thở dài: “Vãn Sơn đến cả binh pháp cũng hiểu, sao lại lợi hại như vậy?”
“Chỉ là lúc rảnh rỗi từng đọc qua… chỉ cần đọc nhiều… Điện hạ! Chẳng phải đã nói là không nữa sao?”
Ôn Trác bị hắn thân mật mút mút nơi cổ, vừa ngứa vừa tê, lửa nóng theo sống lưng bốc lên, nửa người trong chớp mắt mềm nhũn.
Hắn giơ tay định đẩy ra, lại không nỡ dùng sức. Nào ngờ Thẩm Trưng đã thuần thục luồn vào trong lớp trung y, áp sát eo bụng mà vuốt ve.
“Ai bảo lão sư cho ta uống thuốc mê?” Thẩm Trưng bế bổng người lên, kéo màn giường xuống.
Ôn Trác chỉ cảm thấy bên dưới hụt hẫng, chiếc quần lót vừa thay rơi xuống góc giường.
Đồng tử hắn khẽ co lại, không thể tin nổi: “Điện hạ sao có thể mở mắt nói dối, ta khi nào cho ngươi uống thuốc mê?”
Mặt trời càng lên cao, màn giường buông kín, cả phòng xuân sắc đều bị chặn lại trong trướng.
Giọng Ôn Trác mơ hồ như mê sảng, chẳng bao lâu đã hóa thành những tiếng rên khẽ run rẩy.
****************
Dư âm của Quỳnh Lâm yến vẫn còn vương giữa tường cung, nhưng Lạc Minh Phố lại ngồi khô khốc suốt một đêm trong thư phòng nhà mình.
Góc giấy bị ông vò đến nhăn nhúm. Ông mấy lần đặt xuống, lại mấy lần nhặt lên, thở dài không thôi.
Phu nhân trong nội thất lo lắng, hết lần này đến lần khác bưng thức ăn vào, dịu giọng khuyên ông nghỉ ngơi.
Nghe nhiều đến phát phiền, Lạc Minh Phố phất tay quát lui, giọng bực bội: “Mang đi! Đừng làm phiền ta!”
Phu nhân vành mắt đỏ hoe, không dám nói thêm, lặng lẽ lui ra.
Trời vừa tờ mờ sáng, Lạc Minh Phố vốc nước lạnh rửa mặt qua loa, chỉnh lại y quan trước gương đồng, rồi kẹp tờ giấy kia, cất bước hướng về Tử Cấm Thành.
Hôm nay không có buổi triều chính, nhưng phòng trực Nội Các vẫn đèn đuốc sáng trưng. Lạc Minh Phố vòng qua đó, bước chân vội vã, đi thẳng đến Tư Lễ Giám, xin được trực tiếp diện kiến hoàng thượng.
May thay thân thể Thuận Nguyên Đế có phần chuyển tốt. Nghe nói Lạc Minh Phố có việc gấp cầu kiến, ngài trầm ngâm chốc lát rồi vẫn gật đầu.
Trong Dưỡng Tâm điện, Thuận Nguyên Đế khoác áo kẹp màu minh hoàng, nửa dựa trên bảo tọa.
Lạc Minh Phố vừa bước vào điện đã vội quỳ sụp xuống, run rẩy hành lễ: “Thần Lạc Minh Phố, khấu kiến bệ hạ!”
Thuận Nguyên Đế phất tay: “Đứng lên nói. Chuyện gì gấp đến mức phải vội vào gặp trẫm? Bên Thái tử đã bàn qua chưa?”
Lạc Minh Phố lại không dám đứng, đầu cúi càng thấp, cổ đỏ bừng vì khí huyết dâng lên.
“Bệ hạ, thần thất trách! Lần trước thần theo luật tiến hành thẩm tra lại án tử của Tạ Lãng Dương, cho hắn cơ hội trần tình cuối cùng, nào ngờ hắn đã phát điên!”
“Cái gì?!” Thuận Nguyên Đế đột ngột nghiêng người về phía trước, mắt đầy kinh ngạc.
“Tạ Lãng Dương trong ngục khi thì khóc lớn, khi thì cười sằng sặc, thậm chí còn lấy máu từ vết thương của mình bôi lên tường lao vẽ bậy! Thần thấy hắn điên loạn, bèn đưa cho hắn một tờ giấy hoàng ma, muốn xem hắn có thể viết rõ sự tình hay không. Nhưng hắn… hắn lại viết ra những điều này!”
“Mau nói!” Thuận Nguyên Đế cau mày, trán nhíu chặt.
Lạc Minh Phố vội vàng rút tờ giấy trong ngực ra, hai tay nâng cao quá đầu: “Xin bệ hạ xem!”
Lưu Thuyên bước lên nhận lấy, dâng tới trước mặt hoàng đế, rồi lặng lẽ lui về sau nửa bước.
Thuận Nguyên Đế giũ ra xem, sắc mặt lập tức đen kịt như đáy nồi.
Những dòng chữ ấy do Tạ Lãng Dương viết bằng máu, nét bút cực lớn, xiêu vẹo méo mó, nhìn vào mà rợn người ——
“Ôn Trác, ngươi là kẻ ngụy quân tử! Dám nói với ta rằng ngươi cùng Thái tử tư thông, bại hoại luân thường! Ta hận! Hận lũ gian nịnh như các ngươi!”
“Trẫm thấy hắn quả thật điên rồi!” Thuận Nguyên Đế đột ngột vò nát tờ huyết thư, ném mạnh xuống đất.
Động tác quá mạnh khiến phủ tạng chấn động, ông lập tức ho dữ dội, ho đến xé phổi xé gan, khóe môi trào ra một tia máu sẫm.
“Bệ hạ!” Lưu Thuyên cuống quýt bước tới, dâng nước ấm và khăn tay, vừa nhẹ nhàng vỗ lưng hoàng đế, vừa thấp giọng sai cung nhân xử lý tờ huyết thư.
Lạc Minh Phố quỳ dưới đất dập đầu liên tiếp: “Bệ hạ bớt giận! Tạ Lãng Dương đã điên nặng, thần trí rối loạn! Thần lập tức sai người trói hắn lại, bịt miệng hắn, tuyệt không để hắn tiếp tục ăn nói bừa bãi!”
Thuận Nguyên Đế nhận lấy khăn, che miệng, thở dốc hồi lâu mới dịu lại.
Ông run tay chỉ vào Lạc Minh Phố, trong mắt đầy lệ khí: “Ngươi… ngươi cắt lưỡi hắn cho trẫm!”
Lạc Minh Phố toàn thân cứng đờ, kinh ngạc ngẩng đầu: “Bệ hạ, hắn đã bị phán xử chém đầu cuối thu, lúc này e không cần ——”
“Tạ Lãng Dương đáng ghét đến cực điểm, cứ làm theo lời trẫm!” Ánh mắt Thuận Nguyên Đế tàn nhẫn lạnh lẽo.
Lạc Minh Phố ánh mắt rối loạn, cứng nhắc cúi người lĩnh mệnh.
Khi lui khỏi Dưỡng Tâm điện, lưng Lạc Minh Phố đã ướt đẫm mồ hôi lạnh. Ông không chắc hoàng thượng có thật sự để tâm đến những lời trên huyết thư hay không, có vì thế mà nảy sinh nửa phần nghi ngờ đối với Thái tử hay không.
Tạ Lãng Dương muốn giả điên để tránh họa, rốt cuộc vẫn đánh giá quá cao sự dung nhẫn của đế vương. Hoàng đế, từ trước đến nay, chưa từng là người nhân từ.
Đêm ấy, trong ngục Đại Lý Tự vang lên một tiếng gào thét xé lòng, nghe mà khiến người ta lạnh sống lưng.
“Cái gì, phụ hoàng cắt lưỡi hắn?” Thẩm Sân bật dậy khỏi ghế, rùng mình một cái.
Lạc Minh Phố cúi đầu trầm giọng: “Bệ hạ nổi giận, thần cầu tình không được. Tạ Hành Tắc khi định ra kế này, e rằng không ngờ tới hậu quả hôm nay. Dù sau này công đức viên mãn, với tình trạng hiện tại của hắn, chỉ sợ cũng không thể nào lại bước chân vào triều làm quan.”
Trên mặt Thẩm Sân không có nửa phần thương xót. Hắn hít sâu một hơi, chậm rãi ngồi lại xuống ghế, vẻ kinh hãi trong mắt dần tan đi, thay vào đó là một sự bình tĩnh gần như lạnh lùng.
“Hướng tử nhi sinh. Hắn có thể sống sót, đã là kết cục tốt nhất.”
Lạc Minh Phố nhìn hắn một cái: “Điện hạ có muốn gặp hắn thêm lần nữa không? Thần có thể dốc sức an bài.”
“Không cần.” Thẩm Sân dứt khoát phất tay. “Hiện giờ ta tuyệt không thể có bất kỳ liên hệ nào với hắn nữa.”
Lạc Minh Phố nhìn nghiêng gương mặt lạnh lùng của Thẩm Sân, trong lòng bỗng dâng lên một luồng lạnh lẽo.
*******************
Tháng tư đã tới, cây ngọc lan nở những cánh hoa mới, hương thơm lan khắp thành.
Một phong biểu cùng đồ đằng xương thú quấn theo hương hoa, từng bước được dâng vào hoàng thành.
Trong biểu viết rằng: Thát Đát từ lâu ngưỡng mộ thanh uy thiên triều, nay nguyện kết mối Tần Tấn chi hảo, từ đây đôi bên trao đổi vật phẩm, vĩnh viễn không xâm phạm lẫn nhau, cùng giữ thái bình. Kính dâng ngàn con trâu dê, trăm con ngựa tốt, trăm tấm hồ cừu, một viên minh châu, cúi mong Hoàng đế Đại Càn chuẩn thuận.
Trong văn hoàn toàn không nhắc tới việc cầu cưới Chiêu Nguyệt, lại tràn đầy ý thần phục. Thuận Nguyên Đế đọc xong, tự nhiên long nhan đại duyệt, lập tức chuẩn cho sứ đoàn Thát Đát bốn mươi người mang cống vật vào kinh.
Mười ngày sau, một đoàn người phong trần mệt mỏi tiến vào kinh thành. Tướng sĩ biên cảnh hộ tống suốt dọc đường, khí thế rầm rộ, khiến dân chúng kéo đến vây xem.
Người đi đầu thân hình trung bình, mặt vuông rộng, đôi mắt tam giác hơi xếch lên, đuôi mắt liếc qua đám đông vây quanh, lúc nào cũng phảng phất một nụ cười lạnh lẽo như có như không. Môi hắn sẫm màu, vân môi dày đặc, cằm góc cạnh như đẽo gọt, hai đường rãnh sâu từ cánh mũi kéo xuống khóe miệng.
Rõ ràng đã vào xuân, hắn vẫn khoác áo da màu nâu sậm, thắt lưng da bò buộc chặt nơi eo. Trên giáp ngực khắc đầu thú, dữ tợn đáng sợ.
Trên cổ hắn đeo một chuỗi xương thú kết thành dây, chi chít khắc chữ Thát Đát, không rõ mang ý nghĩa gì.
Đối ngoại hắn tự xưng Quỷ Lực Hãn, nhưng không ai biết thân phận thật của hắn là con trai A Lỗ Xích — Hoàn Gia.
Đoàn người dỡ hành lý tại hành quán. Hoàn Gia vừa lau mồ hôi nóng nơi cổ, thì truyền chỉ trong cung đã đến.
Đáy mắt hắn thoáng qua một tia tham lam, rất nhanh lại che giấu. Hắn đưa tay chỉnh lại áo da, kéo thắt lưng, rồi dẫn theo hai thân tín, theo thái giám Tư Lễ Giám, từng bước giẫm lên bậc thềm bạch ngọc.
Ngày ấy, gió lặng không gợn.
Trân Quý phi đang ngồi bên sập, lật giở những bộ y phục Chiêu Nguyệt từng mặc từ nhỏ.
Phần lớn đã ngắn chật, không thể mặc nữa. Giữ lại cũng chiếm chỗ, bà định đem đến Nội Vụ phủ sửa đổi, may thành vỏ gối, ống tay áo, ban thưởng cho cung nhân dùng.
Nhưng mỗi lần Trân Quý phi nhấc lên một món, trước mắt lại hiện ra hình ảnh Chiêu Nguyệt khi mặc bộ ấy — cô bé buộc tóc hai búi, lao vào lòng bà, giọng non nớt gọi “mẫu phi”.
Chỉ cần nghĩ tới việc đem những bộ y phục này cho đi, tim bà đã đau như cắt.
Cung nữ nhỏ giọng khuyên: “Nương nương nếu không nỡ thì giữ lại đi, cũng là một kỷ niệm.”
Trân Quý phi ôm chiếc áo bông thêu hoa văn cát tường vào lòng, hôn nhẹ một cái, khẽ cười: “Y phục thì có gì để làm kỷ niệm? Chiêu Nguyệt lớn nhanh, thay áo quần liên tục. Cứ chất đống thêm, tủ cũng tràn ra mất.”
Cung nữ đáp: “Nương nương nhân hậu.”
Trân Quý phi khẽ thở dài: “Coi như tích chút phúc cho Chiêu Nguyệt của ta vậy.”
Bà đưa tay lật sang bộ khác, không ngờ trong lớp vải lại có vật sắc, một nhát rạch vào ngón tay, vệt máu lập tức rịn ra.
“Hít—!”
Cung nữ kinh hô: “Nương nương! Ai to gan như vậy, dám giấu vật sắc trong y phục?”
Trân Quý phi nhìn giọt máu trong lòng bàn tay, trong tim bỗng thắt lại, một dự cảm chẳng lành trào lên.
Cùng lúc ấy, trong điện Võ Anh, Hoàn Gia chắp tay trước ngực, hai vòng sắt trên cánh tay va vào nhau, phát ra tiếng leng keng lạnh lẽo.
Hắn nhấc mí mắt, kéo môi đỏ sậm, dùng thứ Hán ngữ còn ngượng nghịu nói với vị hoàng đế già nua trên ngự tọa: “Ta, Quỷ Lực Hãn, đại diện cho tù trưởng A Lỗ Xích, nguyện dâng hậu lễ, cầu cưới công chúa Chiêu Nguyệt của Đại Càn!”
Comments