Chương 68 - “Ta muốn bọn chúng… lấy mạng mà đền.”
- Yuu Hibari
- Apr 7
- 13 min read
Những đứa trẻ ấy bị nuôi để làm gì, giờ đã quá rõ ràng.
Sau khi Lưu Khang Nhân bị bắt, không còn ai lén mở kho nấu cháo phát cho dân nữa, bá tánh Miên Châu lại rơi vào cảnh đói khát.
Nhân lúc thiên tai, nhà họ Ôn dùng cái giá rẻ mạt — mười cái màn thầu bột trắng — mua hết những đứa trẻ đói lả đi, nuôi nhốt trong động Nhai Tử, nơi hoàn toàn cách biệt với bên ngoài.
Có lẽ bọn họ còn giả bộ từ thiện, nói với cha mẹ bán con rằng: Ôn lão gia nhân hậu, không nỡ nhìn trẻ nhỏ chịu khổ, tạm thay các người chăm sóc, đợi khi tai họa qua đi, cuộc sống yên ổn rồi, cứ đến đón về.
Một mặt giả vờ ban ân, một mặt lại đẩy người ta xuống vực sâu. Chúng còn chủ động chỉ cho dân cách đi bộ ra biển tìm long diên hương, nói rằng chỉ cần kiếm được một mảnh nhỏ thôi là có thể đổi được không ít bạc, đổi đời trong chốc lát.
Nào ai biết chuyến đi ấy hung hiểm vô cùng, người sống sót chỉ lác đác vài kẻ. Nhưng giữa tuyệt lộ, dù chỉ một tia hy vọng hư ảo cũng đủ khiến dân chúng tôn Ôn Ứng Kính như thần minh, cảm kích đội ơn.
Nhà họ Ôn biết rõ cha mẹ những đứa trẻ ấy phần lớn đi rồi không về, nên càng không kiêng dè mà dùng thân thể người để luyện hương.
Không rõ kẻ nào nghĩ ra tà pháp âm độc ấy: cho trẻ con ăn thứ thức ăn đặc chế, khiến hương kết lại thành khối trong cơ thể. Khi khối hương lớn đến mức đủ dùng, đứa trẻ sẽ đau bụng quặn thắt. Đến lúc đó, bọn chúng chỉ việc mổ bụng đứa trẻ còn sống, lấy khối hương ra.
Còn thi thể ư? Dòng nước xiết của Vọng Thiên Câu chính là “lò xử lý” tiện lợi nhất.
Người đàn bà kiêu ngạo bị cung binh bắt lại khi họ mới vào thành, thứ “hàng tốt thực sự” bà ta nói tới… e rằng chính là loại tà hương này.
Vốn dĩ chuyện này không nên để bất kỳ ai ngoài những kẻ có lợi ích liên quan biết được. Nào ngờ lại xuất hiện một Lục Hầu Nhi bơi lội giỏi đến lạ, còn sống mà thoát khỏi động Nhai Tử.
“Tránh ra, tránh ra! Thời buổi rối ren bớt ra ngoài lảng vảng!”
Trong ngõ lại vang lên tiếng nha dịch quát tháo. Thẩm Trưng nhanh tay bịt miệng Lục Hầu Nhi lại.
Đợi mấy tên nha dịch đi qua, Lục Hầu Nhi mới gạt tay hắn ra, ngực phập phồng dữ dội, tim đập thình thịch: “Các anh nói không sai! Nhà họ Ôn mới là kẻ xấu! Lúc tôi với đại ca vào thành, thấy việc lục soát càng lúc càng dữ. Từ cổng thành đến từng ngõ nhỏ, binh lính như muốn lật tung cả mặt đất lên! Nhân lúc hội hương Miên Châu sắp tới, người vào thành ngày càng đông, các anh mau chạy đi!”
Nhớ lại khi trước mình còn ngốc nghếch khuyên họ đến hội hương xin lỗi Ôn Ứng Kính, Lục Hầu Nhi chỉ thấy mặt nóng bừng — vừa buồn cười vừa bi thảm.
Nhưng nghĩ kỹ, những lưu dân liều chết tìm được long diên hương, ôm hy vọng vào thành đổi tiền chuộc con… chẳng phải cũng ngốc như vậy sao?
Họ đâu biết con mình đã sớm bị cuốn xuống Vọng Thiên Câu, thành mồi cho cá, đời này kiếp này không bao giờ còn gặp lại.
Thẩm Trưng hiểu rõ, hiện giờ Lâu Xương Tùy truy lùng không phải bọn họ, mà là Lưu Khang Nhân.
Chỉ là chuyện làm mất tử tù không tiện công khai, nên quan phủ mới lấy cớ truy bắt kẻ hành hung lừa đảo.
May mà chúng phán đoán sai hướng, cho rằng Lưu Khang Nhân chắc chắn sẽ tìm cách trốn khỏi thành, nên dồn toàn bộ binh lực ra cổng thành, trái lại sơ suất khu vực gần phủ nha.
Ôn Trác khép mắt lại. Hắn biết, tâm nguyện cuối cùng của ông lão kia rốt cuộc cũng không thể thực hiện. Chỉ mong kiếp sau, ông và Chi Oa Nhi có thể sống một đời bớt khổ.
Một lúc lâu sau, hắn mở mắt ra, ánh nhìn đã tĩnh lặng như giếng cổ.
Hắn hỏi: “Lục Hầu Nhi, khối long diên hương kia còn ở trên người ngươi không?”
“Lúc nào rồi mà còn lo hương với chẳng hương!” Lục Hầu Nhi cuống đến nhảy dựng, “Đợi quan phủ lục soát tới đây, các anh chẳng ai chạy được đâu!”
Miệng thì oán trách, nhưng tay vẫn theo bản năng sờ vào ngực, từ trong lớp áo sát người lấy ra một cục nhỏ nhỏ.
Sau bảy tám ngày bị mài mòn, khối long diên hương ấy đã vụn vỡ nhỏ đi rất nhiều, tựa như sinh mệnh con người — không cách nào níu giữ, rốt cuộc cũng sẽ tan biến vào một khoảnh khắc nào đó.
Ôn Trác khép bàn tay lại, cất khối hương đi: “Việc cấp bách nhất là cứu bọn trẻ trong Động Nhai Tử ra ngoài, bắt Ôn gia phải trả giá. Như vậy cái chết của cha con Chi Oa Tử mới không uổng.”
Lục Hầu Nhi nghe mà như chuyện hoang đường. Trong mắt cậu, Ôn gia ở Miên Châu một tay che trời, làm gì có chuyện phải trả giá.
“Ngươi nghĩ gì vậy? Loại tép riu như chúng ta, chết thì chết thôi. Chẳng lẽ còn trông mong các lão gia ăn năn hối cải sao?”
“Hối cải có ích gì?” Ôn Trác cười lạnh. Trong đôi mắt vốn như mặt nước phẳng lặng thoáng hiện một tia tàn nhẫn lạnh lẽo. “Ta muốn bọn chúng lấy mạng mà đền.”
“Điên rồi! Ngươi đúng là điên rồi!” Lục Hầu Nhi nhìn hắn không thể tin nổi. “Dù ngươi đẹp thật đấy, nhưng đầu óc thì chẳng sáng suốt gì! Chờ thêm nữa là các ngươi chết hết!”
Cậu lo thay cho họ nhưng lại không còn cách nào, chỉ có thể nghiến răng: “Đừng trách ta. Ta còn muốn sống, còn muốn tìm mẹ ta! Lời ta đã mang tới rồi. Các ngươi cứ nhất quyết tìm chết, ta cũng không quản được nữa!”
Nói xong, Lục Hầu Nhi dằn lòng, mạnh tay đẩy Thẩm Trưng ra, nước mắt lưng tròng quay người bỏ chạy. Thân hình gầy nhỏ nhưng nhanh nhẹn như khỉ, chớp mắt đã lao vào hậu viện, chui qua lỗ chó nhỏ xíu, biến mất trong làn sương sớm.
“Ê!” Thẩm Trưng không dám gọi to, vội đưa tay chụp lấy, nhưng chỉ túm được khoảng không.
Hắn lập tức ra hiệu cho hộ vệ bên cạnh: “Âm thầm bảo vệ nó, đừng để xảy ra chuyện!”
Hộ vệ lĩnh mệnh, lặng lẽ đuổi theo.
“Chờ đã, lão sư, ta có một thắc mắc.” Hộ vệ vừa đi, Thẩm Trưng liền cau mày. “Lưu Khang Nhân đã mất tích, lẽ ra Lâu Xương Tùy phải đóng chặt thành, đào ba thước đất mà lùng bắt chứ? Sao vẫn không nỡ bỏ lễ hội hương? Với lại, sao lão sư biết họ sẽ không đóng cổng thành, chặn Lục Hầu Nhi ở ngoài?”
Lưu Khang Nhân đứng bên cạnh: “?”
Hôm qua còn gọi “Vãn Sơn”, hôm nay sao lại thành “lão sư”?
Nếu thực sự là quan hệ thầy trò, sao học trò lại dám vượt lễ như vậy, gọi thẳng tên tự của thầy?
Quan hệ giữa Ngũ điện hạ và Ôn chưởng viện quả thực mơ hồ khó lường.
Ôn Trác bình thản giải thích: “Điện hạ không biết. Thứ nhất, đột ngột phong thành ắt gây hoảng loạn. Trong thành hiện không chỉ có người Miên Châu, mà còn có thương nhân từ khắp nơi tới dự hương hội. Người đông miệng tạp, một khi loạn lên, Lâu Xương Tùy không gánh nổi trách nhiệm. Thứ hai, Tô Hợp Hương sẽ phai dần theo thời gian. Ôn gia tồn kho số lượng lớn, trông cả vào hương hội để xả hàng. Họ không chờ nổi, tất nhiên phải để người mua hương vào thành.”
Hắn dừng lại một chút rồi nói tiếp: “Hơn nữa, theo kế hoạch của ta, Lục Hầu Nhi vốn phải tới Ôn phủ trước Lưu Khang Nhân. Là nó quay về muộn.”
Thẩm Trưng bừng tỉnh: “Thì ra là vậy.”
Ôn Trác đổi giọng: “Thực ra ta đoán loại tà hương họ luyện trong cơ thể người cũng có nhược điểm khó bảo quản lâu dài. Nếu không, họ hoàn toàn có thể tích trữ rồi từ từ bán ra hải ngoại, hà tất phải mạo hiểm tiêu thụ ồ ạt tại các châu phủ?”
Lưu Khang Nhân nghe đến đây, như nhớ ra điều gì, vội bước lên: “Khoảng nửa năm trước, khi ta tuần tra ven biển, từng nghe mấy tên ‘hồng mao phiên’ trò chuyện, nói Miên Châu xuất hiện một loại ‘thấu cốt hương’. Trộn với hương cao bôi lên người, hương thơm thấm tận xương, còn có thể khiến người ta ‘tái sinh sức sống’, rất được nữ quý tộc nước họ ưa chuộng. Chỉ là thứ hương này cực kỳ đắt đỏ, bảo quản không đúng cách thì dễ vỡ vụn, mất hiệu lực, phải có đường đặc biệt mới mua được. Khi ấy ta không nghĩ nhiều, giờ nhớ lại, chỉ thấy lạnh sống lưng. E rằng Ôn gia đã bí mật chế loại hương này từ một năm trước.”
Giang Man Nữ siết chặt nắm tay: “Nhất định là vậy! Thứ hương này khó bảo quản, họ buộc phải nhanh chóng xuất hàng!”
Thẩm Trưng lộ vẻ kinh ngạc, nhướng mày: “Ồ? Ngươi còn nghe hiểu được tiếng của hồng mao phiên?”
Đại Càn gọi Hà Lan là “hồng mao phiên”. Hai nơi cách nhau vạn dặm, người Hà Lan rất ít đặt chân tới Trung Nguyên, huống chi còn hiểu được ngôn ngữ của họ.
Lưu Khang Nhân mặt lộ vẻ hổ thẹn, cúi đầu: “Tội thần hổ thẹn. Bị biếm tới Miên Châu mười năm, ngày ngày rảnh rỗi, u uất khó giải. Vừa hay Đô ty lệnh ta dẫn người tuần tra bờ biển, thường nghe thương nhân và phiên nhân trò chuyện. Lâu dần, cũng hiểu được.”
Thẩm Trưng nghĩ bụng: bị biếm mười năm, tháng ngày khó nhọc, cũng là chuyện thường, nên thuận miệng nói thêm: “Hồng mao phiên vốn đã hiếm, ngươi học được tiếng của họ cũng không dễ.”
“Hồng mao phiên quả thực ít gặp, không nhiều bằng người từ Malacca, Java, Bengal, Hormuz, Bồ Lãng Cơ (chỉ người châu Âu/Bồ Đào Nha), La Sát (Nga), Thiên Phương (vùng Ả Rập – Mecca), Cổ Lý (Calicut) …” Lưu Khang Nhân thành thật đáp.
Thẩm Trưng lại thuận miệng hỏi: “Chẳng lẽ tiếng của những người đó ngươi cũng nghe hiểu được?”
Lưu Khang Nhân cúi đầu càng thấp, gần như chạm ngực, giọng đầy tự trách: “Tội thần hổ thẹn… năm tháng khó nhọc, sống một ngày dài như một năm, chẳng biết từ lúc nào đã hiểu được bảy tám thứ ngôn ngữ.”
Thẩm Trưng: “?”
Trời đất! Ngươi hổ thẹn cái qq gì chứ?!
Thiên phú ngôn ngữ mạnh như vậy, năm xưa hà tất phải cầm quân ra trận? Làm thông dịch viên chẳng phải tiền đồ sáng lạn hơn sao?
Ban đầu hắn dự định tạm thời giấu Lưu Khang Nhân đi, đợi xử lý xong Lâu Xương Tùy và Ôn gia, sẽ dâng sớ tâu rõ mọi việc ở Miên Châu lên phụ hoàng. Lưu Khang Nhân cuối cùng có được khoan dung hay không, vẫn phải xem tạo hóa của chính hắn.
Nhưng lúc này, Thẩm Trưng mới thực sự lĩnh hội được chân ý trong câu nói của Ôn Trác: “Dùng thuật đế vương mà nhìn người, chứ không chỉ đơn thuần lấy hai chữ ‘tốt – xấu’ để luận định; tất cả đều ở cách điện hạ điều khiển họ.”
Hắn bỗng không nỡ để Lưu Khang Nhân chết nữa. Có một việc cực kỳ quan trọng, liên quan đến vận mệnh Đại Càn, hắn muốn giao cho người này.
Ôn Trác dĩ nhiên không biết Thẩm Trưng đang tính toán điều gì, nhưng lúc này hắn đã hoàn toàn nắm rõ thế cục Miên Châu.
Hắn ngẩng mắt nhìn sắc trời, nhàn nhạt nói: “Bên Cát Châu, chắc cũng sắp động rồi.”
Giang Man Nữ tiếp lời: “Những hộ vệ phái tới Huỳnh, Kinh hai châu hẳn cũng đã hoàn thành nhiệm vụ.”
Trước đó, Ôn Trác phái năm người xuất thành, phân công rõ ràng:
Hai người phụ trách chặn viên hiệu úy Cấm vệ quân.
Một người mai phục giữa đường, đợi thời cơ chín muồi thì tới trước mặt Lâu Xương Tùy diễn kịch.
Hai người còn lại thẳng đến Huỳnh – Kính, dọc đường tung tin: Ôn gia Miên Châu sẵn sàng thu mua lương thực giá cao, thương nhân cứ việc tới kiếm lời lớn.
Thương nhân lương thực ở hai châu Huỳnh – Kinh vì triều đình cứu tế mà lỗ nặng, không còn lựa chọn, chỉ có thể liều một phen, vận chuyển số lương thực tồn kho khổng lồ tới Miên Châu, mong gỡ lỗ thành lãi.
Kho phủ Miên Châu đã trống rỗng. Dù bọn thương nhân tham lam trục lợi, nhưng lúc này cũng là “cơn mưa đúng lúc”. Ôn Trác buộc phải lợi dụng họ.
Liễu Khởi Nghênh nói: “Viên hiệu úy Cấm vệ quân chắc khoảng hai ngày nữa sẽ tới Miên Châu. Khi đó, e là Lâu Xương Tùy sẽ phải trợn tròn mắt.”
“Hương hội Miên Châu cũng chỉ còn hai ngày.” Ôn Trác khẽ nhếch môi, cười khinh miệt. “Ôn gia đã dựng lên sân khấu lớn như vậy. Nếu ta không hát cùng họ tới cùng, chẳng phải phụ công bọn họ những năm qua ỷ thế hiếp người sao?”
********
Cùng lúc đó, gió cát mù trời, cửa sổ trạm dịch thành Cát Châu lả tả bụi.
Viên hiệu úy Cấm vệ quân ngồi trong góc đại sảnh, ngón tay vô thức miết lên đai da.
Hắn đã chờ ở đây tám ngày. Sự mệt mỏi ban đầu đã tan biến, thay vào đó là nỗi bồn chồn khó nén.
Trên bàn đặt nửa chiếc bánh nướng nguội cứng. Hắn cắn qua loa vài miếng, rồi đứng dậy định lên lầu kiểm tra hành lý.
Không ngờ vừa nhấc chân, cửa lớn trạm dịch đã bị “rầm” một tiếng đẩy bật ra. Hai bóng người phong trần xộc vào, tóc bết từng lọn, mặt mũi lem nhem cát bụi.
Vừa phủi cát, họ vừa lớn tiếng: “Vị đại nhân Cấm vệ quân đâu?”
Hiệu úy tim siết lại, lập tức siết chặt chuôi đao: “Bản úy ở đây! Các ngươi là ai?”
Hai hộ vệ chờ cùng hắn nghe tiếng vội xuống lầu, nhìn rõ người tới liền nói: “Người mình!”
Hiệu úy gấp gáp: “Ngũ điện hạ và Ôn chưởng viện còn cách đây bao xa? Có chỉ thị gì không?”
Hai người lau mặt, lộ đôi môi khô nứt: “Ôn chưởng viện và Ngũ điện hạ vốn định tới Cát Châu hội hợp với đại nhân. Nào ngờ giữa đường nhận được mật báo: Miên Châu phủ xảy ra biến động, nha sai lùng bắt ráo riết, chưa rõ nguyên do! Chưởng viện lo Miên Châu sinh biến, sợ đêm dài lắm mộng, quyết định đi đường tắt tới Miên Châu trước. Ngài ấy lệnh chúng tôi tức tốc báo cho đại nhân lập tức tới Miên Châu hội hợp!”
“Cái gì?!” Hiệu úy kinh ngạc, mày nhíu chặt, nhưng không kịp suy nghĩ sâu xa. Hắn lao lên lầu thu dọn hành lý: “Việc không thể chậm! Ta lập tức xuất phát!”
“Chúng tôi theo đại nhân!” Bốn hộ vệ cũng vội thu xếp, dắt ngựa theo sát.
**************
Lại qua một ngày.
Miên Châu phủ nha vẫn đèn đuốc sáng như ban ngày. Lâu Xương Tùy ngày càng sốt ruột.
Hai ngày nay, nha sai gần như lật tung cả rìa thành, vẫn không thu được gì.
Hắn cuối cùng nhận ra: Lưu Khang Nhân căn bản không định xuất thành, cũng không ẩn nơi hoang vắng — mà trốn ngay giữa trung tâm thành!
Nhưng hắn đã lãng phí quá nhiều thời gian. Thánh chỉ có thể đến bất cứ lúc nào. Ngày mai lại là hương hội Miên Châu thường niên.
Trong lòng Lâu Xương Tùy thắt chặt, thần hồn nát thần tính. Hắn lại tạt cả chậu nước đá lên đầu Vương Lục, cưỡng ép gọi kẻ bị tra tấn đến hôn mê tỉnh lại.
Hắn túm cổ áo Vương Lục, tát mạnh một cái: “Nói cho ta! Lưu Khang Nhân rốt cuộc đi đâu? Bọn chúng chạy hướng nào?!”
Đầu Vương Lục lệch sang một bên, máu tràn khóe miệng, suýt ngất. Hắn gắng ngẩng đầu: “L… lão gia… tôi thật sự không biết… không biết…”
Lâu Xương Tùy nhìn từ trên xuống, nghiến răng ken két, ánh mắt âm u đáng sợ như dã thú sắp phát cuồng.
“Khốn kiếp! Khốn kiếp! Lão tử cả đời săn nhạn, lại bị nhạn mổ mù mắt!”
Hắn quất mấy roi xuống người Vương Lục. Vương Lục kêu thảm rồi lại bất tỉnh.
Ôn Trạch đứng bên cạnh, sắc mặt cũng khó coi.
Hai ngày qua, hắn đã phái toàn bộ tay chân Ôn gia đi khắp nơi, uy hiếp lẫn dụ dỗ, dùng hết mọi thủ đoạn, vẫn không có manh mối.
“Đại nhân, kẻ cướp Lưu Khang Nhân… có khi nào là người của Lưu Quốc công?” hắn lạnh lẽo nói.
Người ta phải ăn uống. Lưu Khang Nhân mặc áo tù, đói lả. Nếu có thể ẩn thân, tất có người tiếp tế. Những người ấy hẳn không phải dân bản địa, mà là kẻ mới nhập thành.
Phạm vi đã thu hẹp, vốn nên dễ điều tra. Nhưng hương hội sắp tới, người vào thành đông và tạp — lại toàn phú hộ, hương thân, thế gia có quan hệ chằng chịt, không dễ đắc tội.
Lâu Xương Tùy đột nhiên dừng bước, mặt càng âm trầm: “Nếu là người của Lưu Quốc công thì còn đỡ. Ta chỉ sợ… là người của Ôn chưởng viện!”
Ôn Trạch giật mình: “Sao có thể?!”
Lâu Xương Tùy lúc này suy nghĩ lại sáng suốt lạ thường: “Biết đoàn cứu tế ở Huỳnh – Kinh, biết Ngũ điện hạ hạ lệnh gì dọc đường, ngoài người của họ thì còn ai? Người đó trông rất giống quan từ kinh thành. Có khi hắn không nói dối, Hiền vương quả thật phái người tới, chỉ là không ai thoát ra được, thật sự bị trạm dịch giữ lại!”
Lửa nến cháy làm không khí méo mó. Trên mặt Ôn Trạch hiện vài gợn sóng trong suốt.
“Đại nhân đừng tự dọa mình. Tôi hỏi thương nhân từ Huỳnh – Kinh, Ôn Trác quả thực còn ở đó cứu tế. Hơn nữa, khi tấu chương của ngài tới kinh thành, hắn vừa rời kinh không lâu, sao biết chuyện Lưu Khang Nhân? Dù có người trong triều báo tin cùng thánh chỉ, Huỳnh – Kinh cách Miên Châu mấy ngày đường, hắn cũng không kịp mưu tính tất cả!”
“Ngươi nói cũng phải…” Lâu Xương Tùy lẩm bẩm, mồ hôi lạnh chảy xuống. “Nếu là Lưu Quốc công làm, thì ông ta cũng phạm tử tội. Lưu Khang Nhân ắt không dám cáo trạng trước hoàng thượng, từ đó chỉ có thể mai danh ẩn tích. Chỉ cần ta vẫn nói với Cấm vệ quân rằng Lưu Khang Nhân sợ tội tự sát, rồi tìm một xác chết mặt mũi biến dạng thế vào… có lẽ qua được cửa này. Hẳn Lưu Quốc công cũng sẽ phối hợp, nhận đó là thi thể con trai.”
Hắn không biết mình đang tự an ủi hay phân tích hợp lý, chỉ cảm thấy bất an, mơ hồ thấy ngày mai sẽ còn đại sự.
“Ngày mai hương hội, Ôn thái gia cũng vào thành chứ?” Lâu Xương Tùy hỏi lơ đãng.
“Dĩ nhiên. Cha tôi coi trọng vụ làm ăn này nhất. Chỉ là tôi chưa kịp nói với ông chuyện Lưu Khang Nhân.”
“Nếu không vì Ôn gia, ta đã phong thành, sàng lọc từng người.” Lâu Xương Tùy ngẩng mắt nhìn Ôn Trạch.
Ôn Trạch lập tức hiểu ý, nhét một hộp Thấu Cốt Hương mới vào lòng hắn, vỗ bụng phệ cười: “Lần này qua ải bình an, tự nhiên không thiếu phần của đại nhân.”
Comments