top of page

Điện hạ và Trạng nguyên lang sao lại như vậy ④ “Ta ắt sẽ đến, vượt đường xa vạn dặm chỉ để gặp người.”

Ban đầu nói chỉ ở lại Miên Châu một tháng, nhưng Quân Mộ Lan vừa ở đã thành ba tháng.

Không phải vì hồn phách tiểu hoàng tử vẫn chưa ổn định, mà là vì nàng bị giam trong thâm cung đã lâu, hiếm khi được tự do thoải mái như vậy, nên chỉ mong kéo dài thêm ít ngày.

Trong ba tháng ấy, Tiểu Ôn Trác vẫn luôn nghỉ lại trong Vọng Tướng Tự, ngày ngày sớm tối ở bên Tiểu Thẩm Trưng.

Tiểu Thẩm Trưng từ đầu tới cuối đều xem cậu như bạn cùng tuổi, cả ngày dùng giọng nói mềm mềm lơ lớ mà ríu rít không ngừng.

Tiểu Ôn Trác nửa hiểu nửa không, nhưng luôn lặng lẽ lắng nghe. Cậu không nhớ mình khi hai tuổi có nói nhiều như vậy hay không, chỉ cảm thấy vị hoàng tử này thật sự quá dư thừa tinh lực.

Ôn Trác khẽ cảm khái: “Tính tình bệ hạ quả nhiên vẫn như trước.”

Thẩm Trưng lập tức sửa lại: “Ta là vì thích ngươi nên mới lải nhải, chứ trước mặt người ngoài ta cũng rất cao lãnh đấy.”

Khóe môi Ôn Trác khẽ cong lên, không tỏ ý kiến.

Dù thật hay giả, nghe vẫn rất dễ chịu.

Pháp Tịch thấy Tiểu Ôn Trác đã tám tuổi mà vẫn chưa nhập học, liền lấy 《Tam Tự Kinh》 ra dạy vỡ lòng cho cậu.

Lúc rảnh rỗi, Tiểu Ôn Trác ngồi trên bậc đá tràn đầy ánh nắng, tay cầm sách, đọc thuộc rõ ràng từng chữ.

Tiểu Thẩm Trưng mỗi ngày mong nhất là được chơi với cậu, nhưng riêng lúc này lại có thể kiềm chế, ngoan ngoãn gối đầu lên đùi cậu, dang tay dang chân nằm thẳng, nghe tiếng đọc sách vang vang, bất tri bất giác lim dim mắt.

Đợi đến khi Tiểu Ôn Trác thuộc lòng hết 《Tam Tự Kinh》, 《Bách Gia Tính》, 《Thiên Tự Văn》, Tiểu Thẩm Trưng cuối cùng không nhịn được nữa, kéo tay cậu, nói chắc nịch: “Nị bấc lăng kỷ khải mân ngữ văn nha*!”

*Câu “拟不棱几启门语温呀!” là lời trẻ con nói ngọng, được viết bằng chữ Hán để mô phỏng phát âm lơ lớ của Tiểu Thẩm Trưng. Câu này cháu Thẩm nhỏ nói là “Ngươi không nên chỉ học mỗi ngữ văn vỡ lòng thôi.” Để sau đấy bắt cháu Ôn nhỏ học tiếng Anh.

Tiểu Ôn Trác ngơ ngác nhìn cậu.

Vì thế chẳng bao lâu sau, trong chùa các tăng nhân thường nghe thấy hai đứa trẻ kẻ xướng người họa —

Tiểu Thẩm Trưng: “How are you?” (Bạn có khỏe không?)

Tiểu Ôn Trác: “I’m fine.” (Tôi rất khỏe)

Tiểu Thẩm Trưng: “Seven by seven?” (7 nhân 7)

Tiểu Ôn Trác: “Forty-nine.” (49)

Tiểu Thẩm Trưng: “Nước sông có thể uống không?”

Tiểu Ôn Trác: “Không nên uống trực tiếp.”

Tiểu Thẩm Trưng: “Bên trong có gì?”

Tiểu Ôn Trác: “Vi khuẩn và ký sinh trùng.”

Tiểu Ôn Trác chỉ nghĩ mình đang chơi cùng hoàng tử, mơ hồ không hiểu ý nghĩa.

Nhưng Ôn Trác — người đã từng sống ở thế giới hiện đại — nghe vậy trái tim mềm lại, khóe môi khẽ cong lên.

Bệ hạ thời “gà tiểu học” cũng rất đáng yêu.

Ban đầu Tiểu Ôn Trác cực kỳ câu nệ, gặp hoàng tử liền quỳ xuống hành lễ, thậm chí không dám ngẩng đầu.

Sau này mỗi lần cậu quỳ, hoàng tử cũng quỳ theo một cái, dần dần cậu không còn hành lễ nữa, chỉ lanh lảnh gọi một tiếng “Điện hạ”.

Trong chùa trò chơi chẳng có gì nhiều, chẳng qua là đuổi bắt chạy nhảy.

Tiểu Thẩm Trưng tuổi còn nhỏ chân ngắn, chạy lắc la lắc lư, mãi cũng không đuổi kịp.

Tiểu Ôn Trác cố ý chạy chậm lại, chạy lăng xăng dắt cậu vòng quanh, nghe cậu cuống lên lầm bầm: “Giờ chân ta ngắn quá à, đợi ta lớn đã!”

Lúc ấy Tiểu Ôn Trác đương nhiên không thể tưởng tượng được, sau này mình sẽ bị người ta dễ dàng bắt được như thế nào.

Thẩm Trưng đứng bên cạnh nhìn sốt ruột, hận không thể tiến lên đẩy chính mình lúc nhỏ một cái, nhưng lại không chạm được, đành quay sang mách tội với Ôn Trác: “Hoàng hậu ngươi xem đi, sao ngươi có thể bắt nạt trẻ con vậy?”

Ôn Trác khẽ quay đầu, bắt chước giọng Tiểu Thẩm Trưng, chậm rãi nói: “Ác so với lý đát lạnh toái, nghĩ phải kêu oa cát.*”

* Câu “喔比里哒凉碎, 拟要叫窝葛.” cũng là cách viết mô phỏng giọng nói trẻ con (nói ngọng) của Tiểu Thẩm Trưng, nên chữ Hán không phải dạng chuẩn mà chỉ ghi lại âm nghe được. Dạng chuẩn của câu này là: “我比你大六岁,你要叫我哥。”nghĩa là “Ta lớn hơn ngươi sáu tuổi, ngươi phải gọi ta là ca.”

Thời gian trong núi trôi qua vùn vụt.

Từ kinh thành gửi thư tới, Thuận Nguyên Đế hỏi thăm bệnh tình của hoàng tử, thúc Quân Mộ Lan sớm hồi cung.

Quân Mộ Lan không thể trì hoãn thêm, đành từ biệt Pháp Tịch.

Nhưng việc đi hay ở của Tiểu Ôn Trác lại trở thành một vấn đề khó.

Thấy hoàng tử thân thiết với cậu như vậy, Quân Mộ Lan vốn định mang cậu về kinh thành, làm bạn đọc cho hoàng tử.

Nhưng Pháp Tịch chắp tay khẽ thở dài: “Nương nương, đứa trẻ này ở nơi đây vẫn còn một đoạn tục duyên chưa dứt.”

Quân Mộ Lan đành phải từ bỏ ý định.

Trong ba tháng ấy, nàng cũng hỏi thăm rõ ràng: Tiểu Ôn Trác không phải thứ tử của nhà họ Ôn, mà là con trai của người chồng đã mất của Lâm Anh Nương. Thảo nào cậu bị hành hạ đủ điều trong nhà họ Ôn.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, đặt mình vào hoàn cảnh người khác, nàng rốt cuộc không thể cưỡng ép chia cắt tình mẫu tử, đem đứa trẻ này đến kinh thành xa lạ.

“Đứa trẻ này số khổ, mong đại sư chăm sóc nó nhiều hơn.”

Quân Mộ Lan để lại không ít bạc, nói: “Chỉ mong nó chăm chỉ học hành, sau này tự mình gây dựng được một khoảng trời, thoát khỏi cái lồng giam này.”

Pháp Tịch mỉm cười: “Vì Thanh Hòa, bần tăng cũng sẽ đối đãi tử tế với nó.”

**********

Ngày chia tay, Tiểu Thẩm Trưng khóc đến xé lòng xé phổi, nhất quyết giật miếng ngọc bạch ngọc bình an khấu trên cổ xuống, nhét vào tay Tiểu Ôn Trác: “Không được quên ta!”

Mắt Tiểu Ôn Trác đỏ hoe, từng giọt nước mắt rơi lộp bộp xuống đất. Cậu không có vật gì đáng giá, không lấy ra nổi thứ gì để tặng lại hoàng tử, chỉ nghẹn ngào nói những ám ngữ hai người thường đối đáp: “Good morning… good night… miss you… I’m fine…”

Tiểu Thẩm Trưng sụt sịt: “Không có fine!”

Tiểu Ôn Trác mím chặt môi.

Xe ngựa dần dần đi xa. Cậu đuổi theo hết đoạn này đến đoạn khác, cho đến khi bụi mờ tan hết, không còn nhìn thấy dấu bánh xe, mới thẫn thờ dừng bước.

Vài tháng trong núi ấy, tựa như một giấc mộng đẹp, là món quà hiếm hoi trong tuổi thơ khổ cực của cậu.

**********

Không lâu sau khi đoàn người của Quân Mộ Lan rời đi, ân sư cũ của Ôn Tề Mẫn sau nhiều năm du lịch cũng trở về quê hương.

Nghe tin đệ tử yêu quý qua đời sớm, ông đau lòng khôn xiết. Sau khi biết người ấy để lại một đứa con trai, trong lòng mới được an ủi đôi phần.

Ông tìm đến Tiểu Ôn Trác, thấy dung mạo thanh tú, tính tình kiên cường, liền truyền dạy toàn bộ học vấn cả đời cho cậu.

Từ đó về sau, suốt vài năm, Tiểu Ôn Trác ban ngày theo đại nho học tập, ban đêm dưới đèn xanh khổ đọc, kinh sử tử tập đều có nghiên cứu, học vấn ngày càng tinh tiến.

*********

Thời gian trôi nhanh, chớp mắt đã tới năm Thuận Nguyên thứ mười một.

Lưu Khang Nhân đại bại ở biên giới phía nam, quân sĩ Đại Càn tổn thất nặng nề. Triều đình không còn sức tái chiến, đành nhục nhã cầu hòa với Nam Bình.

Ai ngờ họ không chỉ phải bồi thường số vàng bạc khổng lồ, mà còn phải chọn một vị hoàng tử đưa sang Nam Bình làm con tin.

Nhân tuyển dường như không có gì phải nghi ngờ.

Thuận Nguyên Đế đau đầu như búa bổ, tay ấn lên trán đang căng phồng, mệt mỏi phẩy tay: “Để Lục hoàng tử đi đi.”

Tin này truyền đến cung của Nghi tần, tựa như sét đánh ngang trời.

Bà ta phát điên chạy tới ngoài Càn Thanh cung, quỳ dài không đứng dậy, khóc đến rướm máu cầu xin hoàng đế thu hồi mệnh lệnh, đừng để mẹ con họ chia lìa.

Thuận Nguyên Đế trốn trong điện mấy ngày, cuối cùng không nén nổi cơn giận, xông ra chỉ vào bà ta quát lớn: “Triều đình nuôi ngươi, thiên hạ phụng dưỡng ngươi! Nay cần mẹ con ngươi vì muôn dân mà hi sinh, ngươi báo đáp trẫm như vậy sao?!”

Nghi tần mắt đỏ hoe, vừa oán hận vừa tuyệt vọng nhìn ông, giọng run rẩy: “Vì sao là Sân Nhi! Vì sao lại là con của ta!”

“Nếu không thì ngươi muốn ai đi?!” Sắc mặt Thuận Nguyên Đế xanh mét.

Nghi tần há miệng, cái tên ấy mắc nghẹn trong cổ, nhưng cuối cùng chỉ là vọng tưởng viển vông.

Sau khi Quân Mộ Lan đưa Ngũ hoàng tử hồi cung, đứa trẻ ấy bỗng thay đổi hoàn toàn, không còn dáng vẻ ngu dại trước kia, ngày càng thông minh lanh lợi, suy nghĩ vượt xa trẻ cùng tuổi. Ngay cả các quan giảng học của Hàn Lâm viện cũng tán thưởng không ngớt, đặt kỳ vọng rất lớn.

Huống hồ cậu là cháu ruột Vĩnh Ninh Hầu, con trai của Lương phi, cả thiên tư lẫn thân phận đều vượt trên Thẩm Sân, tuyệt đối không thể bị đưa đi làm con tin.

Còn Tam hoàng tử có Hách Liên gia chống lưng, Tứ hoàng tử được Trân Quý phi bảo hộ, Nhị hoàng tử là con của Tào Quý phi, Đại hoàng tử lại là con trai đích xuất của Hoàng hậu.

Chỉ có Sân Nhi của bà, không có ngoại tộc làm chỗ dựa, không có triều thần nâng đỡ, sinh ra đã là quân cờ bỏ đi ít được chú ý nhất.

Bà ta vật lộn nửa đời, từ một tú nương tay trắng, từng bước tính toán đi tới bên cạnh hoàng đế, cuối cùng vẫn rơi vào kết cục này.

Thuận Nguyên Đế thấy bà khóc đáng thương, miễn cưỡng tìm một lý do nực cười: “Sân Nhi tuổi nhỏ nhất, phía Nam Bình chắc sẽ không làm khó nó. Ngươi yên tâm, trẫm sẽ nghĩ cách đón nó trở về.”

Một lời nói dối qua loa như vậy, ai có thể chịu nổi?

Nghi tần giận dữ bốc lên, hét một tiếng rồi lao về phía Thuận Nguyên Đế.

Lưu Thuyên thấy vậy vội vàng lao lên ngăn lại, lớn tiếng gọi: “Cấm vệ quân!”

Chốc lát sau, Nghi tần điên loạn đã bị cấm vệ quân kéo đi áp giải.

*************

Những năm này, Tiểu Thẩm Trưng dần lớn lên, tay chân ngày càng nhanh nhẹn, không chỉ cưỡi ngựa bắn cung tinh thông, mà còn luyện được một tay chữ bút lông khá ra dáng.

Cậu thường nhớ đến Tiểu Ôn Trác ở Miên Châu, bèn viết thư, nhờ người gửi tới huyện Lương Bình —

“Ngươi ở Miên Châu có bình an không? Có ai ức hiếp ngươi không? Những điều ta dạy ngươi còn nhớ không?Cung cấm nghiêm ngặt, ta khó bước ra ngoài. Giờ ngay cả dung mạo của ngươi, ta cũng sắp không nhớ rõ nữa rồi.”

Thư từ kinh thành đến rất nhanh, nhưng thư hồi âm từ Miên Châu luôn đến chậm.

Chậm — nhưng rất trịnh trọng.

“Đa tạ điện hạ nhớ đến. Ta vẫn bình an khỏe mạnh, những lời dạy năm xưa khắc ghi trong lòng, chưa từng quên phút nào. Nếu điện hạ bị vây trong cung cấm, khó mà đi lại, ta ắt sẽ đến — vượt đường xa vạn dặm để gặp người.”

Thẩm Trưng ghé đầu lên vai Ôn Trác, chỉ vào bức thư hồi âm ấy, nhỏ giọng nói: “Ngọt quá.”

“Ngọt cái gì?” Ôn Trác đang chăm chú ngắm nét chữ của Tiểu Thẩm Trưng. Nét bút của thiếu niên đã bắt đầu thành hình, trong chữ ẩn chứa cốt lực, tuấn tú hiếm thấy như chính con người viết ra nó.

Thẩm Trưng thuận thế ôm lấy eo hắn, cảm khái: “Vãn Sơn phong thái rồng phượng như thế, gặp mặt rồi chẳng phải sẽ khiến ta thuở thiếu niên mê chết sao?”

Ôn Trác liếc hắn một cái, nói như lẽ đương nhiên: “Bệ hạ nghĩ mình không mê người sao?”

Thẩm Trưng nhướng mày, cúi xuống hôn lên môi hắn, tiện tay dùng lòng bàn tay che mắt hắn lại: “Đừng nhìn nữa, đời này ta viết không ra được kiểu chữ ấy đâu.”

Hàng mi của Ôn Trác run nhẹ trong lòng bàn tay hắn, bị hôn đến hơi thở rối loạn, mà vẫn lẩm bẩm: “Sớm biết vậy… khi đó đã không viết quyển chữ mẫu ấy cho ngươi.”

Còn Tiểu Thẩm Trưng vẫn đang chìm trong sự phấn khích của câu “vượt đường xa vạn dặm để gặp”, hoàn toàn không hay biết hai người bên cạnh đã thân mật đến mức quên cả trời đất.

**********

Năm Thuận Nguyên thứ mười bốn, kỳ thi Hội ở kinh thành diễn ra đúng hẹn.

Tiểu Ôn Trác ở Vọng Tướng Tự từ biệt Pháp Tịch và Thanh Hòa, lại nhìn Lâm Anh Nương lần cuối, rồi đeo hành trang lên lưng, vượt ngàn dặm đi về kinh thành.

Dọc đường đi sớm nghỉ muộn, mất tròn một tháng.

Vừa qua địa giới Lương Châu, thời tiết đột ngột trở lạnh, trên quan đạo người đi lại thưa thớt. Cậu lỡ đi nhầm đường, lại gặp phải cướp, chút lộ phí ít ỏi trong hành lý bị cướp sạch.

May thay miếng bạch ngọc bình an khấu được cậu giấu sát người, bọn cướp không phát hiện ra. Nếu làm mất vật điện hạ tặng lúc chia tay, cậu chết vạn lần cũng không chuộc nổi tội.

Bất đắc dĩ, cậu đem áo ngoài đổi lấy chút bạc vụn, bữa đói bữa no, cuối cùng cũng lết tới được vùng ngoại ô kinh thành.

Khi đi đến chân núi Thanh Bình, cậu đã vừa đói vừa rét.

May mà năm có khoa cử, các cửa hàng ở khắp nơi đều rộng rãi hiếu khách, sẵn lòng cho sĩ tử từ xa tới ở tạm, chỉ cần để lại một bức thư pháp. Sau này nếu đỗ đạt bảng vàng, họ có thể treo trong quán để khoe vinh dự.

Đúng lúc tuyết rơi liên miên, đường sá đóng băng, vô số sĩ tử bị kẹt ngoài kinh thành. Tiểu Ôn Trác vì dung mạo thanh tú, khí chất bất phàm, nên được tạm trú ở khách điếm Duyệt Lai.

Chỉ là không có phòng riêng, chỉ có thể chen chúc cùng bọn tiểu nhị trong quán.

Cậu không dám mạo muội vào kinh, trên người không có nổi một bộ áo bông giữ ấm. Dù suốt ngày ở trong khách điếm, vẫn cảm thấy cái lạnh thấm tận xương.

Hôm ấy tuyết rơi càng lớn.

Bách quan nghỉ triều, Hàn Lâm viện cũng không giảng học.

Tiểu Thẩm Trưng hiếm khi rảnh rỗi, buồn bức bối đến phát hoảng, chỉ dẫn theo hai tùy tùng, liền cưỡi ngựa ra khỏi Tử Cấm Thành.

Tuyết bay đầy trời, trên đường hầu như không có người, vó ngựa dẫm lên tuyết phát ra tiếng kẽo kẹt, mang một phong vị riêng.

Gió lạnh quất qua gương mặt trắng trẻo của cậu, để lại mấy vệt đỏ, lại càng tôn lên đường nét thiếu niên anh khí.

“Điện hạ, chậm lại!” Tùy tùng phía sau vội vàng gọi.

Nhưng Tiểu Thẩm Trưng không dừng, trái lại kéo cương thúc ngựa nhanh hơn, thẳng hướng Huệ Dương môn mà đi.

Tuyết rơi dày đặc, đa số cửa hàng đã đóng cửa, chỉ có quầy bánh thạch táo của bà Vương ở góc phố vẫn đốt lò, hơi trắng bốc nghi ngút.

Thẩm Trưng liếc qua, lớn tiếng gọi: “Bà Vương, để lại cho ta một phần bánh thạch táo!”

Sau đó vung tay ném, một lượng bạc rơi chuẩn xác vào lòng bàn tay bà, còn cậu đã cưỡi ngựa xuyên qua gió tuyết ra khỏi thành.

“Điện hạ! Đừng đi xa nữa, trong núi tuyết lớn, nguy hiểm!” Tùy tùng cưỡi ngựa đuổi theo.

“Trong cung quy củ nhiều đến ngột ngạt, khó lắm mới được chơi tuyết một lần, đừng quản ta!” Tiểu Thẩm Trưng hứng khởi, nào chịu nghe khuyên, thúc ngựa càng chạy càng xa, một mạch phi tới chân núi Thanh Bình.

Núi Thanh Bình trùng điệp kéo dài nghìn dặm, lúc này đều phủ áo bạc, cây cối tựa cành ngọc, cảnh tượng hùng vĩ phi thường.

Cậu đứng lại nhìn hồi lâu, tay chân đông cứng tê dại.

Ánh mắt tùy tiện quét quanh, xa xa thấy vài căn nhà, trong ống khói đang bốc khói trắng.

Dù có quay về cung, cũng phải làm ấm người trước đã.

Tiểu Thẩm Trưng lập tức kéo cương quay đầu, phi ngựa về phía những căn nhà đó.

Đến gần mới thấy đó là một khách điếm. Tuy ở vùng hoang ngoại, nhưng quy mô không nhỏ.

Cậu nhảy xuống ngựa, ném dây cương cho tùy tùng, vén rèm bông, bước vào.

Trong nhà củi cháy rực, nhưng vì người đông, cửa sổ hở, nên không quá ấm.

Chỉ là khắp phòng vang lên tiếng đọc sách, làm xua bớt cái lạnh.

Bên bàn ghế chen chúc không ít sĩ tử lên kinh dự thi, ai nấy mặc áo bông dày, rụt cổ ôn bài.

Giữa đám người mênh mông, Tiểu Thẩm Trưng lại lập tức dừng ánh mắt trên một người.

Người đó mặc áo quần mỏng manh, hai tay lạnh đến cứng đờ, vậy mà vẫn cúi đầu trước bàn viết chăm chú, thỉnh thoảng khẽ ho vài tiếng, ho đến mức hai má ửng đỏ một cách không bình thường.

Tim cậu bỗng như bị ai đánh mạnh một cái, ánh mắt không sao rời đi được, đến cả tiểu nhị bên cạnh tiến lên chào hỏi cũng như không hề nghe thấy.

Cậu vừa định bước tới, thì thấy từ chỗ nhã tọa trên lầu, một công tử ăn mặc hoa quý, rõ ràng đã quan sát hồi lâu, cuối cùng lấy hết can đảm bước xuống.

“Trời lạnh giá đến thế này, huynh đài sao lại mặc phong phanh như vậy?”

Giọng vị công tử ôn hòa, lễ độ, nhưng đôi mắt lại luôn dừng trên gương mặt thanh tú của Tiểu Ôn Trác.

Tiểu Ôn Trác không muốn nói ra cảnh túng thiếu của mình, đặt bút xuống, không kiêu không hèn đáp: “Sách sử đủ để tự vui, cần gì phải lao tâm khổ tứ.” (书史足自悦,安用勤与劬)

Ánh mắt vị công tử lập tức sáng lên đầy kinh ngạc. Vừa cởi chiếc áo lông ấm áp trên người, vừa cười nói: “Vậy ta đành ‘thân nhiều bệnh tật nhớ ruộng vườn, trong ấp có dân lưu lạc thẹn nhận bổng lộc’ vậy.” (身多疾病思田里,邑有流亡愧俸钱)

Câu này vừa thốt ra, các sĩ tử xung quanh đều ngẩng đầu nhìn sang.

Dù câu nói vốn mang ý nghĩa nhân đức, nhưng ngay trước kỳ khoa cử, nghe lại có chút tự phụ, như thể đã chắc chắn mình sẽ đỗ đạt làm quan, hưởng bổng lộc triều đình.

Tiểu Ôn Trác sao dám nhận chiếc áo lông quý giá như vậy, vội vàng đứng dậy từ chối: “Đa tạ ý tốt của huynh đài, ta vẫn còn chịu được, không cần như vậy.”

Người kia bất đắc dĩ nói: “Vậy huynh cứ để ta ‘tự thấy xấu hổ vì nhà cao cửa rộng, mà chưa thấy dân chúng được an lành’ một lần đi.” (自惭居处崇,未睹斯民康)

Ánh mắt mọi người nhìn hắn càng thêm phức tạp — có hâm mộ, có đố kỵ, cũng có khinh thường.

Dù từ y phục có thể nhìn ra hắn là công tử thế gia, nhưng nói thẳng mình sống nơi cao sang, vẫn có phần quá phô trương.

Trong lúc hai người đẩy qua nhường lại, miếng bạch ngọc bình an khấu từ cổ áo Tiểu Ôn Trác trượt ra ngoài.

Cậu không kịp tiếp tục từ chối, vội vàng nhét miếng ngọc trở lại trong áo.

Chỉ nhìn qua cũng biết vật này giá trị liên thành, hoàn toàn không tương xứng với cảnh nghèo túng của cậu lúc này.

Người tặng áo rất tinh mắt, lập tức khựng lại.

Nhưng đúng lúc đó, mắt Tiểu Thẩm Trưng bỗng sáng bừng lên.

Tim cậu đập loạn cuồng, gần như muốn nhảy khỏi lồng ngực.

Chẳng còn quan tâm lễ nghi quy củ hay ánh mắt người khác, cậu sải bước tới, dang hai tay ôm chặt Tiểu Ôn Trác vào lòng.

Tiểu Ôn Trác giật mình, vừa định giãy ra, thì nghe thấy giọng thiếu niên cao hơn mình một chút vang lên đầy vui sướng: “How are you!”

Cậu lập tức không giãy nữa, chỉ ngoan ngoãn đứng trong vòng tay hắn, đôi mắt sáng như trăng, nụ cười dịu dàng rạng rỡ.

“…I’m fine.”

______________________________

Chú thích câu thơ:

  1. Liễu Tông Nguyên:

    “书史足自悦,安用勤与劬。”

    Sách sử đủ làm vui, cần gì khổ công lao lực.

  2. Vi Ứng Vật:

    “身多疾病思田里,邑有流亡愧俸钱。”

    Thân nhiều bệnh tật nhớ ruộng vườn, trong ấp có dân lưu lạc thẹn nhận bổng lộc.

  3. Vi Ứng Vật:

    “自惭居处崇,未睹斯民康。”

    Tự thẹn ở nơi cao sang, mà chưa thấy dân chúng được an lành.

***********************

Preview chương sau:

Trạng nguyên Ôn Trác.

(Chương sau thật sự thật sự là kết thúc rồi!)

Recent Posts

See All

1 Comment

Rated 0 out of 5 stars.
No ratings yet

Add a rating
kokuhaku
3 days ago

how are you? I'm fine, thank you. And you?

Like
bottom of page