Chương 114 - “Lão sư chắc chắn… vẫn muốn nói dối?”
- Yuu Hibari
- Apr 8
- 13 min read
Ôn Trác trừ bỏ được mối họa lớn nhất trong lòng, sợi dây căng suốt nhiều ngày cuối cùng cũng buông lỏng. Buông lỏng một cái, bệnh tình liền dây dưa thêm khá lâu.
Quân cờ trắng theo y vào ngục Đại Lý Tự, đã bị y để lại dưới lớp chiếu rơm, lẫn cùng mạt sắt mà Tạ Lãng Dương hôm đó nghiền nát.
Nó có lẽ sẽ lại thấy ánh mặt trời, cũng có lẽ từ đây chẳng ai hay biết. Nhưng quả thực nó từng tận mắt chứng kiến sự vẫn lạc của một kẻ ở địa vị cao, chứng kiến một ván cờ hiểm đặt mình vào chỗ chết rồi mới tìm đường sống.
Thẩm Trưng mỗi đêm đều thẩm vấn Tạ Lãng Dương. Trời khuya thì thuận lý thành chương không kịp hồi cung, liền nghỉ lại Ôn phủ, ở bên Ôn Trác.
Hắn để Ôn Trác tựa trong lòng mình, tay nâng bát thuốc, từng muỗng một đút y uống.
Ôn Trác đối với chuyện này có chút bất đắc dĩ. Y tuy bệnh, nhưng cũng chưa đến mức già yếu hấp hối. Uống thuốc vốn là việc nhỏ, tự mình làm vẫn dư sức.
Thế nhưng mỗi lần y muốn đưa tay nhận bát thuốc, Thẩm Trưng đều nhẹ nhàng vỗ tay y ra, vẫn thong thả đút từng thìa.
Hai ba lần như vậy, Ôn Trác liền hiểu ra. Thẩm Trưng rất hưởng thụ quá trình này — nhất là khoảnh khắc y hơi hé môi, ngậm đầu muỗng thuốc vào miệng, uống xong lại khẽ đưa đầu lưỡi liếm nơi khóe môi.
Thói quen của con người vốn muôn hình vạn trạng. Ví như lúc y chấm mực pha màu, nhất định phải nghe tiếng nước chảy róc rách mới có thể tập trung; trước khi nghiên cứu học vấn, y phải tắm rửa chỉnh tề sạch sẽ, nếu không sẽ tâm phù khí táo.
Dù sở thích của Thẩm Trưng lại gắn trên người mình, Ôn Trác quyết định tôn trọng.
Sau mỗi lần uống thuốc, Thẩm Trưng còn làm theo phương pháp lão lang trung dạy cho Liễu Khởi Nghênh, xoa bóp huyệt vị giúp Ôn Trác thư giãn thân thể.
Ban đầu Ôn Trác còn tượng trưng từ chối, nói điện hạ cả ngày bận rộn, việc nhỏ này giao cho A Liễu là được.
Nhưng lời vừa dứt, trung y đã bị Thẩm Trưng cởi xuống, bàn tay ấm nóng phủ lên lưng y.
Thế là Ôn Trác dứt khoát nhắm mắt mặc kệ, để mặc đầu ngón tay Thẩm Trưng lướt trên lưng mình, xoa bóp những huyệt vị đau nhức, tiện thể cũng sờ thêm vài chỗ khác.
Hai ngày đầu, Thẩm Trưng còn vì bệnh tình của y mà giả vờ ngủ ở phòng bên, nói sợ quấy rầy y nghỉ ngơi.
Đến ngày thứ ba, hắn trực tiếp chen một chỗ trên giường y, nghiêm trang bảo rằng muốn “hiến thân” sưởi ấm cho y.
Khi ấy Ôn Trác buồn ngủ mơ hồ, lười vạch trần tâm tư nhỏ nhặt của hắn, chỉ nhấc một bên mí mắt, khẽ nói một câu: “Đa tạ điện hạ.” Rồi liền bị Thẩm Trưng ôm vào lòng, lưng trần dán lên lồng ngực rắn chắc của hắn.
Quả như lời nói, người Thẩm Trưng thật sự rất nóng, còn hữu hiệu hơn cả lò than. Mỗi sáng Ôn Trác tỉnh dậy, sau lưng đều thấm một lớp mồ hôi mỏng, hàn chứng cũng nhờ vậy mà dịu đi không ít.
Liễu Khởi Nghênh cũng không rảnh rỗi. Mỗi ngày đều đổi món nấu đồ bổ cho Ôn Trác, một lòng muốn kéo lại cân nặng đang bên bờ nguy hiểm của y.
Nhưng hàn chứng chưa lui, thân thể luôn nặng nề khó chịu, Ôn Trác thực sự ăn không được bao nhiêu. Phần còn lại chỉ đành vào bụng Giang Man Nữ.
Dưỡng bệnh mấy ngày, cân nặng của Ôn Trác chẳng tăng bao nhiêu, trái lại Giang Man Nữ càng thêm tròn trịa.
Còn nữa, Tạ Lãng Dương cũng không có cốt khí như chính hắn tưởng.
Liên tiếp bị tra khảo, tâm lực sớm đã hao mòn, ý chí bị đánh sụp. Chỉ chống đỡ được sáu ngày, hắn đã không chịu nổi, thừa nhận hai quyển sổ bí mật kia là do mình viết.
Hắn không phải không biết hậu quả của việc nhận tội — e rằng sẽ liên lụy đến tam tộc. Nhưng hắn đã không còn sức phản kháng, chỉ cầu bớt chịu khổ hình.
Cung Tri Viễn vì tìm một tia sinh cơ, cũng thành thật khai với Tiết Sùng Niên, nói rằng kế độc hãm hại Thẩm Trưng thực ra do Tạ Lãng Dương trước tiên dâng cho hắn, rồi hắn lại chia sẻ cho Bốc Chương Nghi.
Người có thể chứng minh chuyện ấy, có Vĩnh Ninh Hầu Quân Quảng Bình, còn có Ôn Trác. Cả hai đều tận mắt thấy Tạ Lãng Dương cố ý bước lên Quan Lâm đài, cùng hắn mật đàm điều gì đó.
Khi ấy Cung Tri Viễn còn chưa biết Tạ Lãng Dương đã nhận tội danh chí mạng hơn, đủ để khiến Cung gia bị liên lụy kết tội. Cũng như Tạ Lãng Dương không hề hay biết, giữa lúc sinh tử, vị ân sư kiêm nhạc phụ mà hắn vừa kính vừa sợ ấy lại đẩy toàn bộ tội lỗi lên đầu hắn, khiến hắn thân bại danh liệt triệt để.
Xử lý xong án của Tạ Lãng Dương, Thẩm Trưng không còn lý do lưu lại kinh thành.
Hắn ở bên Ôn Trác ngày cuối cùng — vẫn đút thuốc, xoa bóp, cùng y phơi nắng trong sân, từ chuyện quốc gia đại sự đến hoa xuân trăng thu.
Đến rạng sáng khi Ôn Trác ngủ say, hắn lặng lẽ vén chăn đứng dậy, không kinh động bất kỳ ai, rời Ôn phủ, thúc ngựa quay lại Tân Hải.
Trở lại Tân Hải thêm hơn hai mươi ngày, biến loạn ở Tùng Châu hoàn toàn bị dẹp yên. Kẻ cầm đầu bị chém đầu thị chúng; hơn ba trăm quan viên vận tải đường thủy vì bóc lột phu thuyền, tham ô tiền lương đều bị nghiêm trị.
Dân chúng dọc đường cùng những phu thuyền ôm bất mãn trong lòng cũng được bồi hoàn từ tài sản tịch thu của tham quan, lửa giận theo đó giảm đi đáng kể.
Trong số những phu thuyền trẻ khỏe, có một phần được cải biên thành thủy sư, ngày đêm tăng cường huấn luyện. Sông Tùng Châu lại khôi phục vẻ tấp nập như xưa. Mặc Thư cũng công thành lui về triều.
Thuận Nguyên Đế long nhan đại duyệt, còn đặc ý từ giường bệnh đứng dậy lâm triều nghe chính sự.
Nhìn những gương mặt quen thuộc trên triều đường ngày một thưa dần, trong lòng ông thoáng qua một tia ngẩn ngơ. Nhưng cảm giác ấy rất nhanh đã bị niềm vui vì chỉnh đốn thành công vận tải đường thủy lấn át.
Lần này Mặc Thư làm việc đắc lực, được Thuận Nguyên Đế thăng làm Binh bộ Thị lang.
Mặc Thư về đến kinh thành mới biết rõ mọi chuyện xảy ra trong thời gian qua.
Hắn lập tức nhíu mày, trong mắt thoáng qua một tia trách cứ, lắc đầu với Quân Định Uyên: “Hoài Thâm, chuyện này sao các ngươi có thể cùng nhau giấu ta và điện hạ? Ta thì thôi, nhưng Chưởng viện thân hãm lao ngục, điện hạ lại bị tất cả người thân cận che mắt. Ngươi nghĩ trong lòng điện hạ là cảm giác gì?”
Gương mặt ngọc của Quân Định Uyên khẽ cứng lại. Hắn đi qua đi lại trong sân, áo giáp va vào nhau phát ra tiếng lách cách: “Chưởng viện không cho nói. Người ấy xưa nay tính toán không sai một bước, chúng ta nào dám tự cho mình thông minh? Lỡ như khéo quá hóa vụng, phá hỏng bố cục của Chưởng viện, ai gánh nổi trách nhiệm? Có điều điện hạ sau khi hồi kinh đã nổi giận rồi. Ta nghĩ lại, với thân phận cữu cữu, có lẽ nên giấu để bảo vệ nó; nhưng với tư cách thần tử, quả thực không nên giấu điện hạ.”
Mặc Thư kéo tay hắn, xoay mặt hắn lại, ép hắn nhìn mình, nghiêm giọng: “Điện hạ tâm lượng vượt xa người thường, lại cực kỳ trân trọng thân tình. May mà Chưởng viện cuối cùng vô sự, chuyện này coi như qua. Ngươi nghe cho rõ: sau này nếu điện hạ đăng lâm đại vị, chúng ta làm thần tử, tuyệt đối không được vượt khuôn phép, dù ngươi là cữu cữu ruột của điện hạ. Đổi lại mà nghĩ, nếu một ngày ta mệnh treo sợi tóc, còn ngươi bị các tướng sĩ giấu kín mọi chuyện, vậy thì—”
Mặc Thư chợt khựng lại, buông tay, thở dài, lần đầu tiên trong đời khó mở miệng: “Không đúng, ví dụ này không thích hợp…”
Quân Định Uyên lập tức trở nên nhạy cảm. Thấy Mặc Thư muốn tránh, hắn bước dài đến trước mặt, dồn dập truy hỏi: “Vì sao không thích hợp? Huynh đệ chúng ta tình sâu nghĩa nặng, điện hạ và Chưởng viện cũng là giao tình sinh tử!”
Mặc Thư bị hắn dọa nhảy dựng, bất đắc dĩ đẩy vai hắn, nhưng chỉ mím môi không nói.
Quân Định Uyên nhìn đôi mắt trong sáng của Mặc Thư, rốt cuộc hiểu ra điều gì đó, vẻ mặt đầy khó tin: “Sư huynh, huynh sớm đã nhìn ra manh mối phải không? Điện hạ đối với Chưởng viện… có tâm tư như vậy.”
Mặc Thư quay mặt đi, tránh ánh nhìn của hắn, xoa xoa mi tâm: “Hoài Thâm, chuyện riêng của điện hạ, không phải điều chúng ta nên bàn luận.”
Quân Định Uyên đâu chịu bỏ qua. Hắn nắm tay Mặc Thư, lôi thẳng vào thư phòng: “Huynh đệ chúng ta không phân ngươi ta. Huynh cứ xem như ta tự nói một mình. Hôm nay nhất định phải nói rõ, huynh phát hiện từ khi nào? Còn vì sao luôn giấu ta? Ngoại sanh của ta có tâm tư như vậy, bảo ta làm cữu cữu sao yên lòng được!”
“Hoài Thâm! Ngươi đang cãi cùn!”
Quân Định Uyên lực tay cực lớn. Mặc Thư giãy mấy lần vẫn không thoát, đành ngẩng đầu nhìn trời, nghĩ thầm: đã nhường nhịn hơn mười năm rồi, hôm nay chi bằng lại đánh sư đệ một trận cho nằm xuống.
Mặc Thư về triều chưa bao lâu, các công trình ở Tân Hải cũng dần đi vào quỹ đạo.
Thẩm Trưng theo đề nghị của Ôn Trác, mô phỏng chế độ nhà Tống chỉnh đốn lại Thị Bạc ty, cho trực thuộc trung ương Hộ bộ; đồng thời thiết lập năm cảng thông thương tại Tân Hải, Miên Châu, Bình Châu, Liêm Châu và Vĩnh Châu, thúc đẩy mậu dịch xuất hải. Miên Châu làm thí điểm trước, nếu mọi việc thuận lợi, các cảng còn lại sẽ noi theo.
Đồng thời lập thêm nha môn hải phòng, tuần tra bảo hộ duyên hải Đại Càn, hộ vệ thương thuyền qua lại bình an.
Hộ bộ có Cốc Vi Chi trấn giữ; Lại bộ không còn bị Tạ Lãng Dương kiềm chế, vì thế thuộc quan của Thị Bạc ty và nha môn hải phòng đều do Ôn Trác tiến cử tuyển chọn, thay bằng những hiền thần xuất thân hàn môn, năng lực nổi trội, phẩm tính chính trực, có lợi cho quốc gia.
Những người này ban đầu chưa phải thân tín của Thẩm Trưng, nhưng nhờ ơn tri ngộ ấy, tự nhiên sẽ hết lòng quy phục.
Ngoài ra, Thẩm Trưng còn đề nghị lập thêm chức hải quan, chuyên cấp giấy thông hành nhập cảng, quản lý hàng cấm vận, tra xét buôn lậu trên biển.
Cơ quan này trong bối cảnh thương mại hải ngoại còn yếu ớt có lẽ chưa phát huy nhiều tác dụng, nhưng hắn tin chắc về sau hải quan tất sẽ trở thành trọng yếu.
Thuận Nguyên Đế xem tấu chương, phất bút chuẩn tấu.
Mười ngày sau, Thẩm Trưng chính thức hồi triều. Đến đây, hải vận Đại Càn hoàn toàn định hình và đi vào thực thi.
Thuận Nguyên Đế rốt cuộc vào những năm cuối trị vì đã hoàn thành kỳ tích mà tiền nhân chưa đạt được. Việc này cũng sẽ được ghi vào sử sách, trở thành công tích vĩnh viễn không thể xóa nhòa trong cuộc đời ông.
Cần mẫn cả đời, cũng bình thường cả đời, Thẩm Chiêu Hi lúc này rốt cuộc xứng với cái tên mà Khang Trinh Đế ban cho — quân đức chiêu thương, chính lệnh thông minh, công rạng bốn biển, giang sơn an định.
Trước lễ Tế Lạp, Thiên Giám ty chọn được một ngày cát lành, thiên tượng quang minh, tử vi viên không mây. Thuận Nguyên Đế hạ thánh chỉ, chính thức sắc phong Thẩm Trưng làm Hoàng Thái tử, nhập chủ Đông Cung, cho tham dự nghị sự Nội các, hiệp lý triều chính.
Ông lại phong Quách Bình Mậu, Lam Giáng Hà và Ôn Trác làm Thái tử tam sư, dạy Thẩm Trưng thuật nhìn người, dùng người, khống chế đại cục, cùng năng lực thực hành chính vụ, xử lý triều sự.
Tinh lực Thuận Nguyên Đế ngày càng suy giảm, việc phê duyệt tấu chương cũng giao cho Thẩm Trưng. Từ đây, triều đình Đại Càn chính thức hình thành cục diện mới: Thái tử phê thảo, tam sư phụ chính, hoàng đế quyết định.
Là thầy của Thái tử, Ôn Trác cuối cùng có thể quang minh chính đại đi gặp Thẩm Trưng.
Sau một tháng tĩnh dưỡng, thân thể y đã đại hảo, so với trước khi vào ngục còn đầy đặn hơn chút ít. Vẻ gầy gò nơi mi mục phai đi, càng thêm ôn nhuận.
Một ngày sau lễ Tế Lạp, tan triều, Thẩm Trưng đặc ý mời Ôn Trác đến Đông Cung trò chuyện.
Ôn Trác hoàn toàn không đề phòng. Dặn dò Cốc Vi Chi vài việc tạp vụ Nội các xong, liền men theo Ngự điện Trường Nhai, tâm tình thong dong đi về phía Đông Cung.
Hôm nay tuy lạnh, nhưng trời quang mây tạnh, khí sắc trong lành, trong cung viện một mảnh yên hòa.
Y thậm chí còn dừng chân dưới mái hiên, ngắm đàn chim đậu trên mái ngói một lúc. Tòa cung thành tường son ngói biếc, uy nghiêm thâm trầm này, chưa từng có khi nào khiến y cảm thấy khoáng đạt nhẹ nhõm như lúc này.
Vừa bước vào cửa Đông Cung, Ôn Trác đã gặp Hoàng Đình.
Hiện giờ Hoàng Đình lại được bổ nhiệm làm Đông Cung Chiêm sự, giữa mày đầy vẻ hăng hái. Thấy Ôn Trác, hắn vội cười, khom mình hành lễ: “Chưởng viện.”
Ôn Trác cũng mỉm cười: “Mấy ngày nay nhờ ngươi sắp xếp lịch nghị sự, xử lý tạp vụ thực tiễn, vất vả rồi.”
Hoàng Đình vội xua tay khiêm tốn: “Đâu có đâu có. Điện hạ đang ở Đoan Bản Trai luyện chữ chờ Chưởng viện, còn đuổi hết chúng tôi ra ngoài. Chưởng viện mau vào đi.”
Đoan Bản Trai là thư phòng riêng của Thái tử, khác với Văn Hoa Điện chuyên giảng học.
Đến lúc này, Ôn Trác vẫn chưa nghĩ nhiều. Y đi thẳng theo lối hành lang, rẽ qua một khúc quanh, liền tới Đoan Bản Trai gần sát tẩm điện của Thẩm Trưng.
Y khẽ gõ hai tiếng, đẩy cửa bước vào. Quả nhiên đầu mũi ngửi thấy mùi mực thơm.
Thẩm Trưng một tay chống lên án tròn, tay kia cầm bút chấm mực, đang phóng bút vẽ vời trên giấy Tuyên.
Tư thế thì đúng là tư thế — phóng khoáng tiêu sái, phong thái ngọc thụ lâm phong. Chỉ là chữ viết ấy, Ôn Trác thực sự không dám khen. Viết dọc xuống mà giữ được ngay ngắn không lệch, kích cỡ đều nhau đã là thắng lợi.
Vì thế y vừa bước tới vừa thuận miệng nhắc nhở: “Vi sư gần đây quan sát thư pháp của điện hạ, vẫn chưa có tiến bộ rõ rệt, có lẽ vì bắt đầu muộn. Nếu cảm thấy thiếp của Vương Hi Chi khó mô phỏng, điện hạ có thể tạm gác lại, chọn một thiếp dễ học hơn để nhập môn.”
Thẩm Trưng viết rất chuyên tâm, hơi cúi người, giọng điệu thản nhiên: “Ta đang mô phỏng chữ của lão sư.”
“Chữ của ta?” Ôn Trác hơi sững lại, rồi có chút tự đắc. “Vậy thì cũng khá khó đấy. Không bằng để ta soạn cho điện hạ một bản thiếp đơn giản dễ học, tiện nhập môn.”
Lời vừa dứt, y đã bước đến trước bàn, thuận thế nghiêng đầu nhìn, muốn xem Thẩm Trưng đang mô phỏng theo mẫu chữ nào của mình.
Nhưng thứ y nhìn thấy là mười tờ giấy nhỏ trước kia mình chuẩn bị cho Thẩm Trưng. Thấy cả những gân xanh nổi lên trên mu bàn tay đang chống án của hắn. Và còn thấy ở một góc bàn — lặng lẽ đặt một chiếc thìa dài bằng hổ phách.
Thứ này sao lại ngang nhiên bày trên bàn?!
Trong lòng Ôn Trác chợt dấy lên dự cảm chẳng lành. Y vội siết chặt vạt tay áo, nhân lúc Thẩm Trưng chưa kịp để ý, khẽ nhấc bước lùi về phía sau.
Nào ngờ thân người vừa xoay được nửa, đã nghe “ầm” một tiếng — tiểu thái giám bên ngoài đóng sầm cửa lại, dập tắt tia sáng cuối cùng trong điện.
Ôn Trác lập tức quay phắt lại. Chỉ thấy Thẩm Trưng đã buông bút, đứng thẳng người, nửa cười nửa không nhìn sang: “Lão sư chạy cái gì? Mười tờ giấy này viết rất hay. Ta đã mô phỏng ba lượt, đều thuộc hết rồi.”
Hai má Ôn Trác thoáng chốc phủ một lớp đỏ nhạt. Ánh mắt lảng tránh, liếc bàn, lại liếc khe gạch, cuối cùng ngước lên xà nhà, cố giữ bình tĩnh: “Điện hạ, vi sư chợt nhớ ra Hàn Lâm Viện còn việc gấp chưa xong, xin cáo lui trước.”
Thẩm Trưng bước về phía y, ánh mắt từ trên xuống dưới, thưởng thức “mỹ thê” hôm nay.
Đai ngọc màu mực siết lấy vòng eo dẻo dai; cổ áo giao lĩnh sạch sẽ ôm sát chiếc cổ trắng mịn như sứ, nho nhã đoan trang như cành tùng vươn thẳng.
Mũ ô quan gom hết mái tóc đen, chỉ còn vài sợi lông tơ mềm rủ bên tai. Đôi mắt đang đảo loạn như trúc mực đọng sương, sáng nhuận ẩn quang.
Đủ thông minh, đủ cảnh giác, đủ giảo hoạt. Quả không hổ là “tiểu miêu gian thần”.
Thẩm Trưng cười hỏi: “Lão sư chắc chắn… còn muốn nói dối?”
Nụ cười của hắn xưa nay luôn ôn hòa. Nhưng hôm nay, Ôn Trác lại nếm được trong đó một tia nguy hiểm khó nhận ra.
Không ổn.
Tim y khẽ treo lên. Không dám nhìn thẳng vào mắt hắn. Những lời thoái thác trước đây buột miệng là ra, hôm nay lại chẳng còn nửa phần khí thế.
Thẩm Trưng chắp tay sau lưng, nghiêng đầu nhìn y — nhìn sự chột dạ nơi đáy mắt, nhìn ánh nhìn lảng tránh, nhìn khóe môi ửng hồng, và cả chút kiêu hãnh không giấu nổi.
Vị Ôn chưởng viện vừa rồi trên triều còn chính khí lẫm liệt, thao thao bất tuyệt, giờ đây lại lưỡi cứng miệng khô, trong lòng chỉ muốn trốn.
“Cho lão sư thêm một cơ hội.” Giọng Thẩm Trưng trầm xuống, nghiêm nghị đến mức không thể né tránh. “Vừa rồi… chạy cái gì?”
Ôn Trác siết chặt quan bào hơn nữa. Hàng mi cuối cùng cũng hạ xuống từng chút một: “Vi sư… đuối lý.”
Comments