top of page

Chương 13 - Vẻ đẹp của bà xã là sự thật khách quan, muốn bắt cóc luôn :)

Sáng hôm sau trời vừa hửng, mây tan mưa tạnh.

Đây là lần đầu tiên Ôn Trác vào triều kể từ khi trọng sinh.

Thuận Nguyên Đế bước đi run rẩy, luôn phải có công công Lưu Thuyên dìu đỡ.

Hội cờ Xuân Đài đã cận kề, hôm nay trên triều vốn chẳng có đại sự gì. Ông chỉ cần nhìn con cháu Bát Mạch tranh cãi om sòm, đấu khẩu, vỗ ngực khoe tài là xong, vậy mà hai đứa con trai lại không chịu để ông yên.

Thượng thư Bộ Công Thượng Tri Tần đột nhiên bước ra, “phịch” một tiếng quỳ sụp xuống, dáng vẻ như muốn nện hai cái hố thật sâu trên nền đại điện.

Can gián thường là cái kiểu này, đến Ôn Trác đôi lúc cũng thay họ xót cho đầu gối.

Là nhân vật nòng cốt của phe Hiền Vương, Thượng Tri Tần vừa động đến đầu gối, Thái tử cùng phe lập tức thắt tim.

Chỉ thấy Thượng Tri Tần từ trong ngực lấy ra một phong mật thư, hai tay dâng lên, sắc mặt nghiêm trọng: “Thần cho rằng, án Tào Phương Chính vẫn chưa kết thúc.”

Thái tử vội quay người, trợn mắt quát: “Thượng Tri Tần, ngươi có ý gì! Lấy mạng hắn còn chưa đủ sao? Chẳng lẽ ngươi muốn tru di cửu tộc họ Tào?!”

Cửu tộc họ Tào bao gồm cả Thái tử, thậm chí còn bao gồm cả đương kim thánh thượng. Thẩm Trinh rõ ràng là muốn chụp cho Thượng Tri Tần một cái mũ thật to.

Hiền Vương sao có thể để người của mình đội cái mũ này. Hắn bước ra, dựa vào thân hình cao lớn vạm vỡ, liếc Thẩm Trinh một cái đầy khinh miệt, rồi lại quay sang Thuận Nguyên Đế, bày ra bộ dáng lo nước thương dân quen thuộc: “Thượng đại nhân còn chưa nói một chữ, không biết Thái tử gấp gáp điều gì. Phụ hoàng, nhi thần cho rằng việc này hệ trọng, chi bằng cứ nghe thử. Mấy năm nay Tào Phương Chính hoành hành ngang ngược, e rằng ngay cả Thái tử cũng bị che mắt không ít.”

Thuận Nguyên Đế xoa xoa cổ họng, nghiêng đầu nhổ một ngụm đờm vào ống nhổ, rồi mới phân phó Thượng Tri Tần: “Cầm thứ gì, nói đi.”

“Tuân chỉ.” Thượng Tri Tần giao mật thư cho Lưu Thuyên đến nhận, vén áo quỳ xuống.“Hội cờ Xuân Đài  sắp tới, quan viên các châu phủ đều lên kinh thành tham dự, trong đó có một viên thủy lợi quan đến từ Kiềm Châu. Nghe tin Tào Phương Chính bị kết tội nhập ngục, người này liền lén tố cáo với thần.”

“Sáu năm trước, bến Lương Hà ở Kiềm Châu xảy ra thủy tai, ruộng đồng nhà cửa bị ngập vô số, lưu dân nổi lên khắp nơi, oán thán khắp chốn. Bộ Hộ Bốc đại nhân hẳn còn nhớ, khi ấy triều đình phát hai trăm vạn lượng bạc cứu tế. Sau đó Tào Phương Chính dâng sớ xin tu sửa đê Lương Hà, Bộ Công chúng thần phê chuẩn, triều đình lại cấp thêm ba trăm vạn lượng. Tất cả đều có ghi chép.”

Thuận Nguyên Đế gật đầu, những việc này ông còn nhớ mang máng.

Thượng Tri Tần nghiến răng nói: “Tu sửa đê điều vốn phải do quan dịch và dân phu cùng làm, Đại Càn ta sớm có pháp quân dao điều động dân chúng. Nhưng thần đến hôm qua mới biết, dưới sự ám chỉ của Tào Phương Chính, quan lại địa phương cấu kết với lại dịch, chuyển toàn bộ lao dịch nặng nề vốn do địa chủ và sĩ thân gánh vác sang cho tá điền và lưu dân. Mà tiền lương thực triều đình cấp cho dân, cũng bị quan dịch nuốt trọn.”

“Việc này khiến không ít tá điền bỏ lỡ nông vụ, nghèo đói mà chết, trong nhà chỉ còn lại lão phụ và nữ nhi yếu đuối. Những nữ tử ấy không có lương thực cầm hơi, đường cùng bèn tụ tập lại, dùng sắc dụ cướp bóc thương nhân và quan viên qua đường. Tào Phương Chính lại phái binh trấn áp, còn đặt cho họ cái tên ‘Yên chi tặc’.”

“Khốn kiếp!” Thuận Nguyên Đế lướt qua mật thư, long nhan đại biến, vung tay ném tờ giấy xuống nền gạch đen, “Tên súc sinh đáng chết!”

Quần thần hoảng hốt quỳ rạp xuống, tiếng hô “Chúng thần có tội” vang lên lộn xộn.

Thượng Tri Tần ngẩng cao đầu, trừng mắt nhìn về phía phe Thái tử, hàm ý sâu xa: “Chỉ không biết, số bạc Tào Phương Chính tham ô ấy cuối cùng chui vào túi ai!”

Mục đích của phe Hiền Vương không chỉ là một Tào Phương Chính. Bọn họ muốn lấy Tào Phương Chính làm chỗ hổng, nhổ tận gốc phe họ Tào, chặt gãy cánh chim của Thái tử.

Thái tử lập tức mặt cắt không còn giọt máu, bắp chân cũng mềm nhũn, vội vàng liếc trộm Cung Tri Viễn.

Cung Tri Viễn trầm ngâm một lúc rồi lên tiếng: “Hoàng thượng, lời của viên quan thủy lợi kia cũng không thể tin hoàn toàn. Việc này xảy ra đã sáu năm, nếu thật sự tích tụ tệ nạn đến mức đó, vì sao khi ấy hắn không tấu lên triều đình? Thần cho rằng hắn có tư oán với Tào Phương Chính, nhân lúc người ta ngã ngựa mà ném đá. Hành động này không phải vì triều đình, lòng dạ đáng tru. Hoàng thượng hẳn còn nhớ, Tào Phương Chính từng vì trị thủy có công mà được triều đình ban thưởng.”

Điểm mấu chốt Cung Tri Viễn muốn nói chính là câu cuối.

Năm đó Thuận Nguyên Đế đích thân biểu dương Tào Phương Chính, khen hắn “Trung cần phỉ giải, công tích hiển trứ”. Nếu lúc này thừa nhận Tào Phương Chính có tội, chẳng khác nào nói hoàng đế từng phán đoán sai lầm.

Tham án đào sâu ắt phải ghi vào sử sách, Thuận Nguyên Đế cũng sẽ mang tiếng không phân trung gian.

Quả nhiên, nghe đến đây, Thuận Nguyên Đế liền bình tĩnh lại, rất lâu không nói gì.

Phản ứng này của Thuận Nguyên Đế đã nằm trong dự liệu của Ôn Trác. Đây không phải là sự u ám riêng của bậc đế vương, mà là u ám chung của con người.

Bắt phàm nhân thừa nhận sai lầm đã là chuyện khó, huống chi là thiên tử. Xưa nay có mấy ai dám hạ chiếu nhận tội?

Chỉ là, việc của Tào Phương Chính có thể tạm thời bị ép xuống, nhưng quả “địa lôi kinh thiên” mà Ôn Trác chuẩn bị cho hắn, đã sắp đến nơi rồi.

Thuận Nguyên Đế cuối cùng cũng mở miệng: “Tào Phương Chính, coi trời bằng vung, đại nghịch bất đạo. Lôi ra Ngự điện Trường Nhai, lập tức đánh chết!”

Thượng Tri Tần thất thanh: “Hoàng thượng!”

Chuỗi châu trên mũ miện khẽ lay động, vị quân vương già nua ngẩng lên đôi mắt đã chùng xuống, rốt cuộc lại lộ ra vẻ thờ ơ lạnh lẽo khiến người ta sống lưng phát rét — thứ lãnh đạm của kẻ ngồi ở ngôi cao đã quá lâu.

Giữa quần thần, tâm trí Tạ Lãng Dương từ đầu đến cuối đều dán chặt trên người Ôn Trác.Hắn chờ hai người giống như trước kia, tìm một khe hở mà trao nhau ánh mắt, dù là ánh mắt oán hận cũng được.

Thế nhưng Ôn Trác chưa từng liếc về phía hắn lấy một lần, ánh mắt vẫn luôn dừng ở nơi náo nhiệt.

Bàn tay Tạ Lãng Dương siết lại trong lòng bàn tay.Khoảng chừng nửa chén trà sau, Ôn Trác như cảm nhận được điều gì, ánh mắt đột ngột thu về, nhưng lại không hề dừng trên người hắn dù chỉ một khắc, giống như lướt qua một hạt bụi không đáng kể.

Ngực Tạ Lãng Dương tựa như bị nhét một khối bông thấm nước, nặng nề ngột ngạt.Trong đầu hắn lặp đi lặp lại vẻ quyết tuyệt của Ôn Trác ở điện Thanh Lương, nơi đầu lưỡi liền dâng lên một vị đắng mơ hồ.

Từ đầu đến cuối, hắn từng có lấy nửa phần lựa chọn hay sao?

Hoàng quyền như núi. Không ngờ Ôn Trác đã rời đi, còn hắn hôm nay cũng trở thành quân cờ bị đè dưới chân núi.

Nhưng hắn hé miệng, lại không cách nào tự an ủi mình — bởi những uất ức Ôn Trác phải chịu còn gấp trăm lần hắn, cuối cùng chỉ có thể hóa thành một tiếng thở dài.

Ty Lễ Giám cao giọng hô “bãi triều”, bá quan lần lượt lui ra.Lần này Thái tử tuy mất người cậu, nhưng may mắn thay tổn thất còn trong tầm kiểm soát.

Phe Thái tử vây quanh Cung Tri Viễn, khen ông lâm nguy không loạn, quả không hổ danh thủ phụ.

Cung Tri Viễn còn tranh thủ chào hỏi cậu con rể Tạ Lãng Dương, Tạ Lãng Dương vội cúi người hành lễ: “Ân sư.”

Đợi Cung Tri Viễn được mọi người vây quanh rời đi, Tạ Lãng Dương vội vàng đi tìm Ôn Trác, nhưng đâu còn thấy bóng dáng y.

Hắn hối hả đuổi theo, mãi đến Ngự điện Trường Nhai mới tìm được người.

Ôn Trác đứng một bên cung đạo, hai tay đan vào nhau giấu trong quan bào, đang xem hành hình.

Trong hoàng cung, đánh chết một hai người vốn là chuyện thường — lớn thì quan viên chọc giận thánh uy, nhỏ thì nô tỳ phạm lỗi. Bởi vậy người xem không nhiều, nhưng Ôn Trác lại nhìn vô cùng chăm chú.

Hai tay Tào Phương Chính bị đè chặt, đình trượng nhuốm máu được giơ cao rồi nặng nề giáng xuống.

Mọi tôn nghiêm và ngạo cốt của con người, trước nỗi đau nghiền nát linh hồn như vậy đều trở nên nhỏ bé không đáng kể.Tào Phương Chính đã không còn kêu ra tiếng người, thân thể co giật dữ dội như cá rời nước. Máu theo lớp áo mỏng chảy xuống, chảy đến nền gạch xanh lạnh lẽo đầu xuân, lan dọc theo khe gạch. Trong mũi miệng những kẻ đứng xem, đều phảng phất mùi tanh nồng thảm khốc ấy.

Bao lời Tạ Lãng Dương muốn nói, trước cảnh tượng thê thảm này đều bị đánh tan tành, nửa chữ cũng không thốt ra được.

Bởi hắn, Ôn Trác cũng từng phải chịu loại cực hình như vậy — thậm chí không thể gọi là nhục nhã, mà là hủy diệt.

Tiếng của Tào Phương Chính rốt cuộc cũng tắt hẳn.Ôn Trác rút tay khỏi tay áo, đầu ngón tay lật nhẹ, ném một quân cờ đen xuống đất.

Quân cờ “leng keng” bật hai cái, rồi nằm yên trong vũng máu.

Chính Ôn Trác là người lên tiếng trước, nụ cười lẫn băng giá: “Bài 《Vãn Sơn phú》 của ta, khi nào thì trả lại?”

“Ta…” Tạ Lãng Dương không ngờ vừa mở miệng, giọng mình đã run rẩy.

Ôn Trác giễu cợt: “Tạ thị lang sợ rồi sao?”

Tạ Lãng Dương muốn nói, hắn không phải sợ, mà là thương xót kẻ cùng chịu đựng nỗi đau này.

Chỉ nghe Ôn Trác nói tiếp: “Không cần vội, ngươi và Thẩm Sân cũng sẽ có một ngày như thế.”

Nói xong, y liền men theo Ngự điện Trường Nhai, đi ra ngoài cung môn.

Tạ Lãng Dương lẩm bẩm: “……ngươi thật sự hận ta đến mức ấy sao?"

Trời quang nắng sáng, gió nhẹ mây nhàn. Ôn Trác lười nhìn Tạ Lãng Dương thêm một lần nào nữa.

Lên xe ngựa, Ôn Trác đi thẳng đến Đông Lâu.

Trong kinh thành có bốn đại kỳ phường: Đông Lâu phố Quan Kỳ, Tây Lâu phố Minh Thời, Nam Lâu phố Triều Thiên, Bắc Lâu phố Linh Xuân.

Mỗi kỳ phường đều có hơn bảy trăm gian phòng lớn nhỏ, đủ cho mấy nghìn người đối cục giải trí.

Mỗi khi kỳ đàn có đại sự, bốn đại kỳ phường đều treo một bàn cờ lớn ở trung tâm lầu, truyền trực tiếp những ván then chốt để toàn bộ khách trong lầu cùng thưởng lãm.

Ngày thường, khách ra vào kỳ phường cũng đông không kể xiết, phòng phải đặt từ sớm; chỉ có quan viên triều đình là được ưu đãi — mấy chục gian phòng chữ “Thiên” trên tầng năm đều dành riêng cho họ.

Ôn Trác bước vào, đọc nửa trên của bài thơ làm mật hiệu, được tiểu nhị dẫn qua mật đạo vào phòng Giáp Tý.

Lần này Thẩm Trưng đến sớm — dù sao hắn cũng không cần vào triều.

Vừa bước vào cửa, Ôn Trác đã thấy Thẩm Trưng nghiêng người dựa bên bàn cờ, trong tay nghịch một khối đá xám hình vuông.Hắn có tiết tấu nâng khối đá lên rồi thả xuống, sau đó đổi sang tay kia, hai tay thay phiên chồng lên nhau mà chơi đùa.

Ôn Trác thầm nghĩ, đúng là làm việc khổ sai ở Nam Bình quen tay rồi, không bưng bê chút đồ nặng là thấy ngứa ngáy khó chịu hay sao?

Thẩm Trưng liếc thấy Ôn Trác, bất lực bật cười: “Ta xin ngài đó, thơ của Triệu Sư Tú ngài không giữ lại câu ‘nhàn xao quân cờ lạc hoa đèn’ nổi tiếng nhất, lại giữ ‘ngàn đời mênh mang mộng sử xanh’ là sao? Nếu không phải hồi nhỏ học tạp đủ thứ, suýt nữa ta đã không vào được đây rồi.”

Ôn Trác kinh ngạc nhìn hắn: “Có gì không ổn? Thơ được người đời ca tụng nhất của Triệu Sư Tú vốn chính là bài 《 Cô Tô thai tác 》.”

Thẩm Trưng nghẹn họng. Thẩm mỹ khác thời đại… hóa ra lại chênh lệch lớn đến vậy.

Ôn Trác kéo một tấm bồ đoàn, co gối ngồi xuống, đưa tay chỉnh lại vạt áo bào đã trải ra. Khi cử động, cổ áo hơi hé, lộ ra một mảng da nơi cổ bên, trắng ngần mịn màng, nhìn kỹ còn trong hơn cả ngọc mềm. Ánh sáng từ song cửa rọi vào, như muốn men theo đường nét tinh tế ấy mà trượt xuống, phong tình vô hạn.

Thẩm Trưng nhìn một lúc lâu.

Hắn không hình dung nổi Tống Ngọc, Phan An rốt cuộc đẹp đến mức nào, nhưng nếu là Ôn Trác bước vào thời hiện đại, e rằng chẳng thể dễ dàng ra ngoài, nếu không chắc chắn sẽ khiến cả con phố tắc nghẽn.

Không biết những học giả và người yêu sử đời sau từng lên án, mắng chửi Ôn Trác kịch liệt kia, nếu nhìn thấy gương mặt này, liệu có thể khoan dung, thương xót thêm đôi phần không.

“Chỗ ta từng ở có một nơi gọi là Tam Lý Đồn*, ta dám đảm bảo, lão sư đứng ở đó chưa đến một phút là bị người ta bắt cóc mất.”

Tam Lý Đồn (Sanlitun - 三里屯) là một khu vực sầm uất nổi tiếng tại quận Triều Dương, Bắc Kinh, Trung Quốc, được ví như "thiên đường" mua sắm, giải trí và thời trang thời thượng nhất của giới trẻ và du khách. Nơi đây nổi bật với các trung tâm thương mại cao cấp, nhà hàng, quán bar sang chảnh và là địa điểm "sống ảo" (check-in) nổi tiếng.

Ôn Trác lấy quân cờ ra, lần lượt đặt lên các điểm tinh, tiểu mục, tam tam trên bàn cờ, giọng không lạnh không nóng: “Bần cùng sinh gian ác, cái ‘đồn’ mà ngươi nói, e là vùng hoang vu hẻo lánh của Nam Bình, nên dân phong mới hung hãn như vậy.”

Thẩm Trưng lại bật cười: “Không phải đâu. Tam Lý Đồn nghèo hay không là chủ quan, nhưng muốn bắt cóc lão sư là khách quan.”

Ôn Trác ngước mắt liếc hắn.

Thẩm Trưng thức thời đưa hòn đá che miệng, tỏ ý mình không nói bậy nữa.

Ôn Trác nói: “Để hòn đá của ngươi ra xa chút, trông quái dị lắm.”

Thẩm Trưng đáp: “Đừng mà, khó lắm mới tìm được cái này—hai đầu thô, giữa thon, cầm rất vừa tay.”

“Cầm để làm gì?”

“Tập luyện sức mạnh, kích hoạt cơ bắp hai đầu cánh tay, từ nay không làm ‘chó gầy’ nữa.”

Tuy lời Thẩm Trưng đầy mùi vị Nam Bình, khiến Ôn Trác nghe không hiểu hết, nhưng “tập luyện sức mạnh” thì y vẫn hiểu. Nghĩ lại, Thẩm Trưng dù rời kinh từ năm tám tuổi, nhưng rốt cuộc vẫn mang huyết mạch Vĩnh Ninh Hầu, trong xương cốt vẫn là hồn võ tướng.

Ôn Trác có phần an ủi, giọng cũng dịu xuống: “Ngươi biết bao nhiêu về hội cờ Xuân Đài?”

Thẩm Trưng đáp: “Thịnh sự của giới cờ, mỗi năm một lần. Được phong Quốc Thủ là đổi mệnh nghịch thiên, phú quý tột bậc. Nhưng mấy chục năm nay, Quốc Thủ hầu như đều xuất thân thế gia, vì bọn họ độc chiếm những chiêu thức cờ vây tinh diệu nhất.”

Ôn Trác gật đầu: “Đúng vậy. Ta cũng là sau khi nhập sĩ mới có cơ hội tiếp xúc với chiêu thức của các môn cao thâm. Ngươi xem kỹ ván cờ ta đánh này.”

Thẩm Trưng cảnh giác cắt ngang: “Khoan đã, còn có ba ngày nữa đã đến hội cờ Xuân Đài, chẳng lẽ lão sư định dạy ta thành trình độ Quốc Thủ để đi thi? Dục tốc bất đạt cũng đâu có khoa trương đến thế.”

Ôn Trác cau mày, nhìn hắn như không thể tin nổi: “Dù ngươi bái ta làm lão sư, nhưng ta chưa từng kỳ vọng thiên phú của ngươi đến mức ấy.”

Thẩm Trưng: “……” Các anh em, tốt xấu gì ta cũng từng đứng nhất toàn tỉnh đấy nhé.

Ôn Trác giơ tay gõ nhẹ bàn cờ, trong khóe mắt giấu vô số tính toán tinh ranh: “Ta chỉ cần ngươi, trước khi chung kết, ghi nhớ không sót một quân nào trong ba ván cờ ta dạy.”

“Ba ván cờ?”

Thẩm Trưng còn đang kinh ngạc, chợt nghe một tiếng choang—tiếng cồng kim loại vang lên chói tai, làm hàng liễu ven đường rung lên xào xạc.

Trên phố Quán Kỳ tách ra một lối đi, có một người mặc áo ngắn màu lam thẫm dệt khắc tơ, bên hông đeo cồng kim loại, vừa đi vừa rao: “Kỳ thủ Nam Bình vào kinh, dự hội cờ Xuân Đài của Đại Càn! Lần này nhất định cướp ba hạng đầu, cho kỳ sĩ Đại Càn biết thế nào là trời cao còn có trời cao hơn, người giỏi còn có người giỏi hơn!”

Lời lẽ ngông cuồng ấy tự nhiên khiến không ít kỳ thủ ở Đông Lâu bất mãn. Có mấy người tức giận muốn xông lên lý luận, nào ngờ tên tiểu tử kia xách ra một chùm pháo đỏ rực, quẹt hỏa chiết châm lửa, tức thì đùng đoàng nổ vang, nhấn chìm tiếng mắng chửi của người Đại Càn trong bầu không khí náo nhiệt.

Ôn Trác nghe tiếng pháo giống hệt đêm giao thừa ấy, trước mắt bỗng lóe lên pháp trường dính máu trên Trường Nhai Ngự Điện. Rồi cơn đau thấu xương lại theo tiếng nổ ấy cuộn trào, dày đặc quấn chặt lấy y.

Sắc mặt y tái đi, quân cờ bộp một tiếng rơi xuống bàn, lăn qua những đường cờ đen trắng đan xen.

“Sao vậy?” Thẩm Trưng mắt nhanh tay lẹ, vội đỡ lấy vai y. Dưới lòng bàn tay, thân thể Ôn Trác dường như đang khẽ run rẩy.

Recent Posts

See All

1 Comment

Rated 0 out of 5 stars.
No ratings yet

Add a rating
Celia
3 days ago
Rated 5 out of 5 stars.

Đùa, bộ não của tên họ Tạ có còn trong đầu k thế hay để quên trong bụng mẹ luôn rồi. Bây yêu ngta nhưng phản bội ngta đi lấy vợ sinh con, bắt người ta ký nhận tội danh mang tiếng xấu muôn đời, thịt nát xương tan còn mình thì lưu danh sử sách, nhận hết tiếng thơm. Bây còn hỏi đc câu "hận ta đến thế sao?" - tsb nó, nghe có tức nổ phổi không

Like
bottom of page