Chương 28 - “Vi sư còn chưa kêu đau! Yếu ớt thế này, sao gánh nổi việc lớn!”
- Yuu Hibari
- Apr 7
- 13 min read
Updated: Apr 18
Ôn Trác nhìn gói bánh thạch táo trong lòng, khựng lại một thoáng.
Hắn không ngờ tối qua Thẩm Trưng say đến mức ấy, vậy mà vẫn nhớ lời hứa thuận miệng. Chỉ không biết những lời hồ ngôn sau cơn say, rốt cuộc hắn còn nhớ được mấy phần?
Những lời tri kỷ giữa thầy trò, với người ngoài nghe chỉ là thân mật bình thường, nhưng với hắn… lại khiến ý vị biến đổi, khó mà tự xử.
Đằng này Thẩm Trưng lại là kẻ nghĩ gì nói nấy, thích bày tỏ.
“Điện hạ ra ngoài trước đi, lát nữa ta có lời hỏi.”
Ôn Trác nhìn bánh thạch táo thêm mấy lần, cuối cùng vẫn đưa cho Liễu Khởi Nghênh, rồi dặn Giang Man Nữ: “Đun ít nước nóng.”
“Vì sao?” Thẩm Trưng không hiểu. Bàn tay hắn vẫn đặt trên lưng Ôn Trác, vuốt ve mái tóc mềm mại ấm áp kia.
Khóe mắt Ôn Trác liếc qua cánh tay hắn rất nhanh. Hai nam tử thân cận thế này vốn là chuyện thường, nhưng hắn lại cố tình thích nam tử — làm sao có thể xem là bình thường?
Hắn dời mắt, thấp giọng: “Người ta dính mồ hôi, muốn tắm gội thay quần áo.”
Ồ?
Tắm gội thay quần áo.
Thẩm Trưng đánh giá hắn một lượt. Thấy trung y hơi nhăn, mấy sợi tóc đen dính nơi cổ, rủ xuống tận cổ áo — cũng không biết rủ đến đâu — trong lòng chợt sinh chút bực bội.
Hắn chỉ tay về phía Liễu Khởi Nghênh và Giang Man Nữ, nhướng mày đầy hứng thú: “Hay để họ ra ngoài, ta ở lại hầu lão sư tắm?”
Liễu Khởi Nghênh và Giang Man Nữ liếc nhìn nhau. Ngay cả Giang Man Nữ tính tình thẳng thắn, lúc này cũng đỏ mặt quay đi, chột dạ không nói lời nào. “Hồ nháo. Điện hạ sao có thể hầu hạ người khác?”
Tai Ôn Trác đỏ ửng, giọng vừa trách vừa hờn, “Ta xưa nay tắm một mình, không quen trong phòng có người. Các ngươi ra hết đi.”
Giang Man Nữ vội chạy đi lấy nước nóng, Liễu Khởi Nghênh lo chuẩn bị bình phong và khăn lụa. Thẩm Trưng bị vô tình chặn ngoài cửa phòng ngủ, đứng nhìn cây lê tán lá sum suê giữa sân, hứng thú tiêu tan.
Hắn thật sự phải tìm Thái sử lệnh của Đại Càn hỏi cho ra lẽ, rốt cuộc bộ 《Càn sử》 kia có bao nhiêu phần bịa đặt.
Nào là “quen lui tới câu lan giáo phường, hồng nhan đầy chỗ, hành vi phóng đãng, nhiều lần bị răn dạy mà bản tính khó dời, khiến triều dã không ai dám đứng ra làm mối, phong khí vì thế mà suy đồi” đâu rồi?
Sao con mèo gian thần ngoài đời lại bảo thủ đến thế?
Giữa thầy trò giúp nhau rót chậu nước nóng, lau người, tự tay mặc trung y thì có gì ghê gớm!
***********
Trong phòng nước nóng đã chuẩn bị xong, y phục mới treo trên xà ngang. Một tấm bình phong che kín thùng gỗ, qua ô cửa minh ngõa cũng chẳng thấy nổi bóng người.
Liễu Khởi Nghênh lui ra, khép cửa lại. Thấy sắc mặt Thẩm Trưng, nàng khuyên: “Điện hạ đừng thất vọng. Đại nhân quả thực không quen để người khác hầu thay trung y hay tắm gội. Nếu ngài muốn báo đáp ân sư, sau này còn nhiều cơ hội.”
“…Mượn lời lành của ngươi vậy.” Thẩm Trưng đáp qua loa, vẻ mất hứng.
Hắn nhìn lên nhìn xuống viên gạch ngói, chỉ nghe tiếng nước lay động rì rào, không khỏi nghiến răng: “Thái sử lệnh Đại Càn là ai nhỉ? Ngày mai ta phải tìm ông ta tâm sự mới được.”
Liễu Khởi Nghênh tuy không hiểu vì sao hắn đột nhiên hỏi chuyện này, nhưng vẫn thành thật đáp: “Là Chu Hy Văn Chu đại nhân. Nghe nói ông ấy tính tình cương trực, thà gãy chứ không cong, xuất thân thế gia Thái sử. Có gì không ổn sao?”
Thẩm Trưng bỗng quay đầu, trong lòng “thình” một tiếng.
Hắn lại bỏ sót nhân vật mấu chốt này!
Đúng vậy — lúc này Thái sử lệnh vẫn là Chu Hy Văn, chứ chưa phải Chu Hy Bang.
Bộ 《Càn sử》 từ năm Thuận Nguyên hai mươi ba đến cuối niên hiệu Thịnh Đức thực chất do em trai Chu Hy Văn là Chu Hy Bang biên soạn.
Giữa đó có một nghi án chưa lời giải: cái chết của Chu Hy Văn.
Sử sách chép ông đột phát hàn tật, đêm cuối năm Thuận Nguyên qua đời đột ngột, mới bốn mươi tám tuổi.
Vì tính tình cô độc, độc lai độc vãng, bản thảo để lại rối rắm khó hiểu, nhiều đại sự chưa kịp ghi vào Thực lục, nên em trai Chu Hy Bang tiếp nhận, trùng tu Càn thực lục, biên soạn đến tận khi Thịnh Đức Đế băng hà.
Thời Thịnh Đức Đế có một văn nhân thi rớt tự biên soạn cuốn Xuân Đài biệt tập, trong đó viết Chu Hy Văn bị Thịnh Đức Đế bí mật xử tử — vì ông không chịu sửa đổi sử thực theo ý hoàng đế. Còn Chu Hy Bang biết “linh hoạt”, nên phú quý đầy nhà, an hưởng tuổi già. Dĩ nhiên, dị bản sử liệu còn rất nhiều. Vì tác giả Xuân Đài biệt tập vô danh, vô chức, nên nhiều học giả xếp nó vào loại dã sử.
Thẩm Trưng canh cánh chuyện nhỏ này trong lịch sử, là vì nó liên quan mật thiết đến hắn.
Năm ba đại học, một nơi đào tàu điện ngầm phát hiện một ngôi mộ cô độc. Sau khảo cứu, giới khảo cổ xác định đó là mộ của tác giả Xuân Đài biệt tập. Đáng tiếc phần lớn mộ chí bị hư hại, chỉ lờ mờ đọc được mấy chữ: “Xuất thân thư hương thế gia… làm con rể Thái sử lệnh Chu Hy Văn…”
Nếu thật sự là con rể Chu Hy Văn, thì độ xác thực của cuốn biệt tập tăng lên rất nhiều.
Thẩm Trưng gan lớn. Khi giới học thuật còn chưa có định luận, hắn đã lấy đây làm điểm đột phá viết luận văn tốt nghiệp.
Kết quả buổi bảo vệ giữa kỳ, vì thiếu sử liệu chống đỡ, bị Phó viện trưởng Văn học bác bỏ.
Trong trường có câu truyền miệng: gặp chuyện không thuận thì đến Ung Hòa Cung bái một bái, chỉ cần lòng thành, sức mạnh tín ngưỡng nhất định sẽ “san bằng” mọi việc.
Bất kể san bằng thế nào — nói chung là sẽ được san bằng.
Nhà duy vật Thẩm Trưng vì muốn tốt nghiệp suôn sẻ đành phải đi thật. Hắn thắp hương một ngàn tệ, chỉ cầu một điều: nội dung trong Biệt tập là thật, để luận văn của hắn có thể thuận lợi thông qua.
Ai ngờ vừa bước ra khỏi cổng Ung Hòa Cung, mở mắt ra lần nữa, hắn đã quỳ trong hoa sảnh nhà “mèo gian thần”.
Nhất thời hắn nghẹn lời, không biết nên cảm thán Ung Hòa Cung quả nhiên linh thiêng, hay là… linh tinh.
Nhưng trước mắt, hắn quả thực có cơ hội làm rõ chân tướng đoạn lịch sử này.
****************
Ôn Trác tắm gội xong, thay một thân thanh bào bước ra. Mái tóc dài còn ướt nên chưa buộc, cứ thế xõa xuống, tỏa ra hương bồ kết nhàn nhạt.
Hắn đi tới bậc thềm, khẽ vuốt lại tóc ướt, ngẩng mắt nhìn Thẩm Trưng.
Có lẽ chỉ là vô tình, nhưng đôi mắt ấy quá đỗi đa tình, như nước xuân lấp lánh, khiến Thẩm Trưng bỗng muốn kéo hắn trở lại trong phòng, để mái tóc ướt mềm như gấm kia lướt qua da thịt mình. Lúc này hắn mới hiểu vì sao Cốc Vi Chi lại thích đứng trước Ôn Trác ngâm thơ đến vậy.
Trong đầu hắn rực rỡ muôn màu, cuối cùng hội tụ thành một câu thơ, suýt nữa bật thốt: “Trăng lên sáng ngời, người sao mỹ lệ vậy, lão sư.”
“……”
Ôn Trác ngẩng đầu nhìn mặt trời chói chang trên đỉnh đầu, nhất thời không biết đáp lại ra sao.
Bánh thạch táo của bà Vương đã bày trên bàn đá nhỏ. Ôn Trác vừa ngậm bánh, vừa không quên tra hỏi: “Chuyện yến Đặc Ân là thế nào? Vì sao ngươi giấu tài đánh cờ? Ngươi có biết nếu nói thật, chúng ta vốn không cần phiền toái thế này!”
Thẩm Trưng thẳng thắn giơ ba ngón tay: “Lão sư minh giám, ván tự đấu hôm qua đúng là ta học thuộc. Trình độ thực của ta chỉ như lúc đánh với người thôi. Nếu không vì câu hỏi đó, ta cũng chẳng cố tình thua.”
Nhắc tới “câu hỏi đó”, Ôn Trác suýt nữa nghẹn bánh, vội bưng chén trà uống một ngụm.
“Ván cờ tinh diệu như vậy, ngươi học ở đâu? Đừng bảo mộng gặp tiên nhân lừa ta.”
“Ở nơi ta từng đến.” Thẩm Trưng đáp.
“Nam Bình?” Ôn Trác bán tín bán nghi. “Nam Bình xưa nay không chuộng cờ đạo, sao có ván cờ như thế, lại chỉ để mình ngươi phát hiện, người khác không biết?”
Thẩm Trưng thầm nghĩ, chẳng lẽ nói đó là AI, thuật toán, máy tính tính ra sao?
Nhân lúc rót trà cho Ôn Trác, hắn suy nghĩ một chút rồi bịa chuyện: “Ta chẳng thích đào mộ sao? Ở Nam Bình có một mộ gọi là Thất Tinh Lỗ Vương cung. Trong đó ta phát hiện một bản kỳ phổ thời Chiến Quốc, ghi lại ván cờ ấy. Hai lão giả đối cờ tự xưng là A Pháp Cẩu (AlphaGo) và A Pháp Nguyên (AlphaZero), nói rằng nhờ lĩnh hội bí kíp ‘Monte Carlo Tree Search’ mới ngộ ra được. Ta thấy thú vị nên học thuộc. Mà ta cũng chỉ biết mỗi ván này thôi. Nếu không phải Thẩm Sân tự cho mình thông minh bắt mọi người tự đấu, ta cũng không khoác lác làm gì.”
“Chẳng lẽ là lăng mộ chư hầu nước Lỗ thời Hán?” Ôn Trác chống cằm suy tư, khẽ thở dài. “Xem ra sở thích của ngươi cũng không hoàn toàn vô dụng.”
Cổ tay hắn trắng mảnh, bên má còn lộ mạch xanh nhàn nhạt dưới da, dường như chỉ cần siết nhẹ là in dấu tay.
Thẩm Trưng lặng nhìn hắn. Khi suy nghĩ, hắn hơi nhíu mày, mi mắt rủ xuống, dáng vẻ nghiêm túc ấy lại lộ ra vẻ đáng yêu vô hạn.
Tim Thẩm Trưng rung động, nhưng vẫn cưỡng ép đè xuống.
Nếu Càn sử thực sự bị sửa đổi, vậy hai trang một nghìn chữ viết về Ôn Trác trong sách, rốt cuộc bao nhiêu phần là thật, bao nhiêu phần là giả?
“Đi thôi. Thời gian gấp gáp, ta muốn tới bái phỏng Vĩnh Ninh hầu.” Ôn Trác ăn xong bánh thạch táo, phủi vụn bánh trong tay, gọi Liễu Khởi Nghênh tới buộc tóc.
“Vì chuyện đào mật đạo?” Thẩm Trưng cũng đứng dậy. “Phụ hoàng thưởng ta trăm lượng vàng, ngày mai ta mang tới hết, giao cho Liễu cô nương giữ, chi phí thợ thuyền lấy từ đó, còn lại để lão sư dùng.”
“Không chỉ vì mật đạo.” Ôn Trác do dự một chút, khẽ thở dài. “Đến nơi rồi nói.”
**************
Quá giờ ngọ, ánh nắng nơi mái hiên dần thu lại, rồi nghiêng xuống tường.
Phủ Vĩnh Ninh hầu cách phủ Ôn Trác chỉ hai con ngõ dài, gọi là phố Hưởng Thủy và phố Lạc Thủy. Nếu đi bộ vòng vèo thì xa, nhưng nếu đào thông dưới đất lại gần hơn nhiều.
Ôn Trác kéo Thẩm Trưng vào kiệu nhỏ sơn đỏ. Tiểu đồng quất roi, bánh xe lộc cộc lăn đi, khiến trong kiệu chòng chành.
Kiệu của Ôn Trác thuộc loại “kinh tế thực dụng”, không rộng lắm, tối đa chỉ hai người ngồi.
Trước khi tham gia đoạt đích, hắn sống khá tiết kiệm.
Thẩm Trưng tuy gầy nhưng cao lớn, kiệu vừa lắc là hai người khó tránh va chạm.
Ôn Trác lại một lần nữa đụng vào vai hắn.
Thẩm Trưng dứt khoát đưa tay ôm lấy hắn, cánh tay phải vòng qua lưng, đặt lên vai, hơi nóng lòng bàn tay xuyên qua lớp gấm chạm tới da.
“Ngươi—”
“Suỵt… vai ta đau.” Thẩm Trưng nhắm một mắt, giả như thật sự đau đến phải nhịn.
Vi sư còn chưa kêu đau!
Yếu ớt thế này, sao gánh nổi việc lớn!
Ôn Trác tức tối siết chặt vạt áo, bị ép dựa sát vào người Thẩm Trưng. Người thì không còn va chạm, nhưng tim lại đập dồn dập như trống.
Hắn rất căng thẳng, sợ dựa gần quá, Thẩm Trưng nghe ra nhịp tim bất thường, phát hiện bí mật khó nói, thấp hèn, bỉ ổi của mình.
Còn Thẩm Trưng — người “bình thường” — lại hoàn toàn không hay biết, còn vén rèm chỉ một đài hoa đang diễn kịch: “Lão sư từng nghe Bá Vương biệt Cơ chưa? Ta thích xem tuồng… này.”
“Có nghe qua đôi lần, không ấn tượng sâu.”
Ôn Trác lại không khỏi tự trách. Trên đời những mối tình đẹp đẽ, chung quy nam nữ mới là chính đạo. Nếu có thuốc chữa được căn bệnh cố chấp này của hắn thì tốt biết bao.
Mang tâm sự trong lòng, hắn vô thức dựa hẳn vào người Thẩm Trưng.
Ban đầu Thẩm Trưng còn nghĩ, nếu có thể mang cây cao su từ Peru về, bọc một lớp cao su lên bánh xe, có lẽ sẽ giảm xóc.
Nhưng nhìn dáng Ôn Trác liên tục ngã vào lòng mình, hắn lập tức bỏ ý định ấy.
Lạc hậu cũng có cái hay của nó.
Chưa đầy một nén hương, kiệu dừng trước phủ Vĩnh Ninh hầu.
Vĩnh Ninh hầu Quân Quảng Bình tuổi đã cao, sớm cáo lão hồi hương. Thực quyền không còn, nhưng uy vọng trong quân vẫn vững. Quân Định Uyên có thể sớm được quân đội chú ý, không bị mai một tài năng, phần lớn là nhờ dư uy của ông.
Thẩm Trưng làm con tin mười năm, Quân Định Uyên cũng tòng quân mười năm. Lương phi suốt thời gian ấy ở trong thâm cung, còn phu nhân Vĩnh Ninh hầu hai năm trước đã qua đời.
Tòa phủ rộng lớn này, rốt cuộc chỉ còn lại một mình Quân Quảng Bình.
Ông trọng tình trọng nghĩa, cả đời chỉ cưới một vợ, sinh hai người con. Phu nhân mất rồi cũng không tái giá. Ở địa vị của ông mà giữ được như vậy, quả thực hiếm có.
Thẩm Trưng không phải lần đầu đến thăm ngoại tổ. Sau khi hồi kinh, hắn hai bàn tay trắng, túng thiếu không ít, đã không ít lần “thuận tay” lấy bạc từ Lương phi và Vĩnh Ninh hầu. Quân Quảng Bình thương xót đứa cháu ruột mười năm xa cách, hai mắt đỏ hoe, hận không thể dọn cả phủ cho hắn.
“Ông ngoại, con đến rồi!” Thẩm Trưng gõ cửa bước vào, giọng quen thuộc, không chút câu nệ.
Nhà võ tướng không nhiều lễ nghi rườm rà. Quân Quảng Bình nghe tiếng, thu lại cây trường thương trong tay, dựng lên giá binh khí, cười sang sảng: “Hôm qua con làm náo động cả yến tiệc, ta còn tưởng thánh thượng giữ con lại trong cung. Sao hôm nay lại có thời gian đến thăm lão già này?”
Ông bước ra khỏi sân, mới nhìn thấy bên cạnh cháu còn có một người.
Ôn Trác mặc thanh bào giản dị, dáng vẻ đường đường của chưởng viện Hàn Lâm, thần sắc điềm tĩnh, môi mang ý cười nhàn nhạt, cũng không vội vàng hành lễ trước Quân Quảng Bình.
Quân Quảng Bình khựng lại. Ông không ngờ Ôn Trác lại cùng cháu đến đây, liền cười: “Ôn chưởng viện đại giá quang lâm, lão phu nghênh tiếp chậm trễ.”
“Bẩm hầu gia, hôm qua Ngũ điện hạ một tiếng vang trời, lại được thánh tâm, hạ quan đặc ý đến chúc mừng.” Ôn Trác chậm rãi bước vào, tiện mắt quét qua hàng binh khí dựng sát tường.
“Được lại thánh tâm” là thật. Nhưng lời ấy từ miệng Ôn Trác nói ra lại mang hàm ý khác.
Một vị từ nhất phẩm chưa từng kết đảng, sủng thần trước điện ai ai cũng biết, lại đặc biệt vì chuyện này mà đến chúc mừng ông. Quân Quảng Bình rất khó không suy nghĩ xem trong lời có ẩn ý gì.
Ôn Trác dường như nhìn ra, thản nhiên cong môi: “Hầu gia không mời ta ngồi uống chén trà sao? Lần trước ngài nói về ‘ném đá dọa hạc’, Vãn Sơn vẫn còn nhớ mãi.”
“Xin mời.” Quân Quảng Bình đưa tay.
Một lát sau, ba người ngồi trong chính sảnh. Trà là đại mạch trà từ Mạc Bắc, không thanh nhã như các loại trà danh tiếng phương Nam, nhưng vị đậm đà, mang khí chất hoang dã cứng cỏi.
Quân Quảng Bình chống tay lên gối, cười ôn hòa: “Ôn chưởng viện hôm nay e rằng không chỉ đến chúc mừng?”
Ôn Trác thổi lớp hơi nóng trên miệng chén, nhấp một ngụm trà đậm, hàng mi dài dính chút hơi nước.
“Hầu gia có biết hôm ấy trong lời Tạ Lãng Dương, hạc mù là ai, sài lang là ai, còn nông phu là ai không?”
Nụ cười trên mặt Quân Quảng Bình dần thu lại. Ông vốn đã cảm thấy lời Tạ thị lang hôm ấy có ẩn ý, chỉ là… Ôn Trác làm sao biết được?
Thẩm Trưng đặt tay lên đầu gối, ngón tay dài vuốt nhẹ nắp chén, trực tiếp nói: “Ông ngoại, hạc mù là con. Sài lang là kẻ sau trận chung cục vu hãm con. Còn nông phu… là người trong Bát Mạch biết nội tình.”
“Cái gì?” Quân Quảng Bình kinh ngạc.
Thẩm Trưng bình thản: “Chuyện con học thuộc ba ván cờ ở Nam Bình là bịa. Nếu không phải Ôn chưởng viện sớm nhận được tin, bảo con chép lại trước cho phụ hoàng xem, âm mưu vu hãm đã thành công. Giờ này ông phải lên Phượng Dương đài thăm con rồi.”
Quân Quảng Bình bật đứng dậy, toát mồ hôi lạnh vì mưu tính triều đình.
“Ý con là Tạ thị lang sớm biết âm mưu của Bát Mạch, ngay tại hội cờ đã nghĩ cách vu hãm con?!”
Ôn Trác nói: “Hầu gia, ngài tuy không còn ở triều, nhưng cũng phải rõ, thánh thượng bệnh nặng, tranh đoạt ngôi vị ngày càng lộ rõ. Bát Mạch liên quan đến lợi ích của mấy vị hoàng tử. Muốn bảo toàn họ, ắt phải đẩy một người ra gánh tội. Ngũ điện hạ vừa từ Nam Bình trở về, không được thánh sủng, lại không có ngoại thích chống lưng, tự nhiên là lựa chọn tốt nhất. Ngài có biết kế này do ai nghĩ ra không?”
Quân Quảng Bình vừa định phản bác rằng sao lại không có ngoại thích chống lưng, ông đây vẫn còn sống, nhưng lập tức bị câu hỏi kia chặn lại.
Ông thận trọng hỏi: “…Ai?”
Ôn Trác sắc mặt không đổi: “Là Tạ Lãng Dương. Nhưng ngài có biết hắn nghĩ kế này cho ai không?”
Chỉ trong mấy câu, Quân Quảng Bình đã chịu cú chấn động quá lớn. Ông hít sâu, cố nén lửa giận: “Chẳng lẽ không phải cho Tạ môn?”
Ôn Trác cười, trong giọng lại phảng phất tiếng thở dài sâu xa: “Hầu gia chỉ có tài dụng binh, lại thiếu mắt nhìn người. Đáng tiếc thay.”
Comments