Tiểu Miêu Thủ Phụ thường nhật ⑥ “Đời này chỉ có một người ấy, tình sâu ý nặng, vốn nên cùng chung chăn gối, nương tựa bên nhau.”
- Yuu Hibari
- Apr 14
- 16 min read
Updated: Apr 17
Rất nhiều cựu bộ hạ của Ngũ hoàng tử biết được mối quan hệ giữa Thẩm Trưng và Ôn Trác theo những mốc thời gian khác nhau.
Người đầu tiên nhìn ra manh mối là Quân Mộ Lan.
Lúc mới nghe tin, nàng tất nhiên kinh ngạc sững sờ. Nhưng rồi nghĩ đến cuộc hôn nhân không do mình làm chủ, đến cả con ruột cũng không thể bảo vệ chu toàn, nàng liền không còn tâm tư phản đối nữa. Đúng là Thẩm Trưng đã trái với tổ huấn, bước lên con đường mạo hiểm kinh thế hãi tục. Nhưng nàng lại chẳng phải ngày đêm mong mỏi thoát khỏi ràng buộc, sống một đời khác biệt đó sao?
Vì thế, nàng rất nhanh chấp nhận hiện thực, còn âm thầm xoay xở nhiều bề cho hai người.
Người thứ hai nhận ra là Mặc Thư.
Mặc Thư vốn tâm tư tinh tế, hành sự trầm ổn. Dù trong lòng thoáng kinh ngạc, hắn vẫn kín miệng như bưng, không hé nửa lời với người ngoài. Thường ngày gặp hai người, vẫn cung kính đúng mực như trước.Với hắn mà nói, so với chuyện Thẩm – Ôn lưỡng tình tương duyệt, điều hắn lo lắng hơn là giữa hai người nảy sinh hiềm khích, ảnh hưởng đại cục mưu tính.
May thay nỗi lo ấy chưa từng thành sự thật; từ đầu đến cuối, hai người tâm ý tương thông, thấu hiểu như xưa.
Người thứ ba sinh nghi là Quân Định Uyên.
Hắn quanh năm chinh chiến sa trường, tính tình cương trực, nói năng thẳng thắn. Sau khi từ thần sắc của Mặc Thư xác nhận thực tình, hắn lập tức định đi tìm Thẩm Trưng nói rõ.
Thái tử tương lai cùng Đế sư yêu nhau, còn ra thể thống gì? Một khi truyền ra ngoài, ắt sẽ dậy sóng ngập trời.
Hắn vừa nóng máu lao ra đã bị Mặc Thư giữ lại. Đây là lần đầu tiên sau khi trưởng thành hắn nghịch ý sư huynh. Hắn một lòng muốn khuyên cháu quay về “chính đạo”, kết quả bị Mặc Thư liên tiếp quật ngã ba lần, thực sự ăn một trận đòn.
Quân Định Uyên nửa nằm nửa ngồi trên đất, lau vệt máu nơi khóe môi, lúc này mới bừng tỉnh: sau khi trưởng thành, mỗi lần giao thủ sư huynh đều thua hắn. Hắn cứ ngỡ mình khỏe hơn, chiếm thượng phong, nào ngờ sư huynh ngày càng nội liễm nhẫn nhịn, vẫn luôn cố ý nhường hắn.
Mặc Thư cũng chẳng phải không hề hấn gì. Áo vải thô dính đầy bụi đất, trên người va quệt không ít, thêm vài vết bầm tím.
Thấy gương mặt tuấn tú của Quân Định Uyên nhăn lại đầy ấm ức, Mặc Thư không khỏi bật cười, chìa tay ra: “Lâu rồi chưa giao thủ với ta, Đại tướng quân chịu phục chưa?”
“Sư huynh!” Quân Định Uyên quay mặt đi giận dỗi, tay Mặc Thư lơ lửng giữa không trung.
Một lúc sau, hắn miễn cưỡng đặt tay lên, bị kéo đứng dậy, miệng vẫn cứng: “Không phục! Luyện thêm một năm nữa, ta nhất định thắng sư huynh!”
Mặc Thư bất lực lắc đầu, chỉnh lại y phục, trầm giọng hỏi: “Giờ đã tỉnh táo chưa?”
Quân Định Uyên phủi bụi trên người, im lặng không đáp.
Mặc Thư hơi cau mày, lộ vẻ lo lắng: “Hoài Thâm, điều ta lo nhất chính là ngươi hành động theo cảm tính. Điện hạ tuy là cháu ngươi, nhưng cũng là quân vương tương lai, lại không phải hôn quân ham vui, độc đoán. Ngươi thân là cữu cữu, tay nắm trọng binh. Xưa nay quyền thần ngoại thích không biết tiến thoái, rước họa vào thân, chẳng lẽ còn ít sao? Đường Thái Tông là minh quân muôn đời, cùng Trưởng Tôn Hoàng hậu tình sâu nghĩa nặng. Thế nhưng khi Trưởng Tôn Vô Kỵ muốn bái tướng, chính Trưởng Tôn Hoàng hậu lại kiên quyết khuyên can. Hoài Thâm, ngươi vừa là lương tướng, vừa là ngoại thích, phải hiểu điều bậc thánh nhân dè chừng.”
Một phen khuyên giải ấy khiến Quân Định Uyên dần bình tĩnh lại. Thẩm Trưng vốn hiểu đạo lý, Ôn Trác lại mưu trí hơn người. Hai người đã lựa chọn như vậy, ắt hẳn đã tính toán chu toàn. Người ngoài cưỡng ép khuyên can cũng vô ích.
Thấy sắc mặt hắn hòa hoãn hơn, Mặc Thư biết hắn đã nghe vào, bèn cố ý trêu: “Mặt tướng quân có đau không? Kẻ hèn Lý Bình ban nãy mạo phạm, xin đi lấy thuốc trị thương cho tướng quân.”
Quân Định Uyên nghe mà ê răng: “Sư huynh, đừng mỉa mai ta nữa. Nhưng ngươi tay chân mảnh khảnh thế, sao ra tay lợi hại vậy? Có phải năm xưa sư phụ giấu ta một chiêu không?”
Mặc Thư liếc hắn một cái, quay vào thư phòng lấy kim sang dược.
Quân Định Uyên vội đuổi theo, không cam lòng hỏi: “Ta đường đường đại tướng quân bị đánh thành thế này, ngươi lại không chút thương tích? Cởi áo cho ta xem, ta không thể nào kém cỏi vậy được!”
Mặc Thư trừng hắn: “Ngươi còn muốn ăn thêm một trận nữa?”
Tóm lại, dưới màn “giáo huấn” của Mặc Thư, Quân Định Uyên miễn cưỡng chấp nhận sự thật, và từ đầu đến cuối không nhắc một chữ nào trước mặt Thẩm Trưng và Ôn Trác.
Về sau nữa là Cốc Vi Chi, Hoàng Đình và Tiết Sùng Niên.
Họ phát hiện ra vào đúng ngày đại điển đăng cơ, khi thấy Thẩm Trưng chỉ đỡ mỗi mình Ôn Trác đứng dậy mới chợt bừng tỉnh.
Cốc Vi Chi: “Hả?”Hoàng Đình: “Hả?”Tiết Sùng Niên: “Hả?!”
Sau đó ba người tụ lại một chỗ, lén lút bàn tán xôn xao.
Tiết Sùng Niên mặt đầy đau xót: “Các ngươi kinh ngạc cái gì! Hai người các ngươi vốn là tâm phúc của bệ hạ, vậy mà chẳng nhìn ra chút nào sao? Đâu như ta, sau vụ án Vãn Sơn Phú mới miễn cưỡng được coi là người một nhà!”
Cốc Vi Chi gãi đầu, dang tay: “Chưởng viện và bệ hạ xưa nay hành xử bình thường, hoàn toàn là tình thầy trò sâu nặng, ta làm sao nghĩ sang hướng đó được?”
Hoàng Đình vuốt râu, trăm mối vẫn không hiểu: “Đúng vậy. Hoàng thượng tôn sư trọng đạo, Chưởng viện hành xử có chừng mực, chẳng khác gì chúng ta, nửa điểm dấu hiệu cũng không có!”
Tiết Sùng Niên đi đi lại lại, lắc đầu liên hồi: “Các ngươi làm sao mà leo được đến chức vị hôm nay vậy?”
Cốc Vi Chi bưng chén trà nhấp một ngụm: “Tiết đại nhân cũng đừng nói ta. Khi trước ngài còn nghi ta tham sống sợ chết trên điện, bỏ mặc Chưởng viện, làm ta mất mặt trước triều. Ngài giao tình với ta và Chưởng viện đều không ít, vậy khi ấy ngài nhìn ra được điều gì chưa?”
Hoàng Đình phụ họa: “Phải đó. Khi xưa bệ hạ đích thân đến Đại Lý Tự chống lưng cho Chưởng viện, ngài cũng đâu có nhận ra?”
Tiết Sùng Niên trầm mặc một lát, hạ giọng: “Các ngươi nói xem, chúng ta có nên dâng sớ khuyên can không?”
Cốc Vi Chi lắc đầu: “Nếu bệ hạ cưỡng ép đoạt lấy, ta có lẽ sẽ can gián. Nhưng Chưởng viện đã cam tâm tình nguyện, ta không muốn tự chuốc phiền.”
Hoàng Đình nói: “Ta vốn là người cũ của Đông cung, nhờ bệ hạ tin dùng mới có ngày hôm nay. Người khác phản đối thì mặc, ta vẫn phải đứng về phía bệ hạ.”
Tiết Sùng Niên thở phào một hơi: “May quá may quá, ta còn sợ hai người cổ hủ, học theo tên Chu Hy Văn cố chấp kia. Ta vốn sợ sinh chuyện, việc này chúng ta cứ coi như không biết.”
Người tiếp theo hay tin là Trân Quý phi.
Nghe được phong thanh, nàng hoảng hốt xách váy chạy thẳng đến Cảnh Nhân cung, định tìm Quân Mộ Lan hỏi cho ra lẽ.
Nhưng vừa đến trước cổng cung, nàng chợt ngộ ra. Nếu Thẩm Trưng vốn không phải kẻ phá cách, chẳng theo lễ chế tổ tông, thì sao lại ra tay cứu Chiêu Nguyệt của nàng?
Từ xưa quân vương đa phần bạc tình. Thẩm Trưng vì cứu Ôn chưởng viện mà dám trở mặt với phụ hoàng, đã là chuyện hiếm có trên đời.
Nghĩ thông rồi, Trân Quý phi liền chắp tay sau lưng, thong thả quay về cung.
Chớp mắt, Ôn Trác thực thi tân chính đã ba năm, cuối cùng cũng đè xuống được làn sóng phản đối trong và ngoài triều, bắt đầu thấy hiệu quả.
Bách tính dần dần được hưởng lợi, cuộc sống mỗi ngày một khấm khá, thức ăn trên bàn ngày càng đầy đặn, lúc ấy mới hiểu được nỗi khổ tâm của Ôn Trác.
Hôm ấy, Thẩm Trưng đặt tấu chương xuống, quyết định sẽ cùng Ôn Trác đi nghỉ ở Nam Châu, thưởng ngoạn phong cảnh Giang Nam.
Ôn Trác nhìn đống công văn của Nội các và Hàn Lâm viện chất trước án, khẽ nhíu mày: “Còn nhiều chính vụ chưa xử lý, chi bằng hoãn thêm ít ngày.”
Thẩm Trưng thẳng tay khép văn thư trước mặt y, chống tay lên bàn cúi nhìn: “Thủ phụ à, chính vụ thì mãi không bao giờ xong. Con người phải biết lao động nghỉ ngơi kết hợp. Hơn nữa chậm thêm nữa là sang thu rồi, thân thể ngươi hễ nhiễm lạnh là sinh bệnh.”
Ôn Trác đặt bút xuống, ngồi ngay ngắn phản bác: “Bệ hạ trước kia đâu như vậy. Bệ hạ từng nói muốn làm ‘quyển đế’.”
Thẩm Trưng nghiêm túc đáp: “Nhưng làm việc ba năm đã thay đổi suy nghĩ của ta. Nghề hoàng đế quá hao tâm tổn sức, ta không muốn học theo Thái Tổ, lao tâm khổ tứ, quên ăn quên ngủ, hơn ba mươi tuổi đã tự làm mình mệt chết.”
Ôn Trác nghiêm mặt: “Bệ hạ cẩn thận ngôn từ. Khi ấy thiên hạ vừa định, việc nhiều như núi, Thái Tổ là vì vết thương cũ thời chinh chiến tái phát mà qua đời.”
“Dù sao đi nữa, nay thiên hạ thái bình, ngươi và ta đều nên nghỉ ngơi cho tốt.” Thẩm Trưng nhấn mạnh.
Ôn Trác không cãi lại nổi, đành đáp ứng, trở về phủ thu xếp hành lý, mang theo Liễu Khởi Nghênh và Giang Man Nữ, cùng Thẩm Trưng vi phục nam tuần.
Đường đi thong dong nhàn nhã, đến khi đặt chân dưới thành Nam Châu đã mất hơn hai mươi ngày.
Thẩm Trưng đứng trước thành không khỏi thở dài: “Đời sau chỉ cần hai giờ xe chạy, nay lại phải đi lâu như vậy. Xem ra ta muốn ngắm hết phong cảnh Đại Càn cũng khó rồi.”
Khi xưa đọc tạp thư, hắn đã đầy tò mò về phong tục chốn thị dân cổ đại. Nhưng vi mô sử liệu lưu truyền quá ít, chỉ có vương hầu danh tướng được lưu danh sử sách, còn vô số bách tính chân thực sống động lại lặng lẽ vô danh.
Ôn Trác nghe mà hiếu kỳ, nghiêng đầu hỏi: “Từ kinh thành đến Nam Châu hơn hai nghìn dặm, sao có thể hai giờ là tới?”
Thẩm Trưng đáp: “Đời sau có xe nhanh hơn, đường rộng và bằng phẳng hơn. Khi ấy từ kinh thành đi Miên Châu trong ngày cũng có thể khứ hồi.”
“Vậy chẳng phải ta ngày nào cũng có thể về quê sao?” Ôn Trác thuận miệng nói.
Thẩm Trưng trêu: “Phải tốn tiền. Chừng một lượng bạc một chuyến khứ hồi. Ngày nào cũng đi, một năm hơn ba trăm lượng.”
Ôn Trác lập tức tròn mắt. Theo quy định Thái Tổ đặt ra, quan viên Đại Càn bổng lộc vốn không cao. Nếu không phải thế gia đại tộc, thường ngày sống khá chật vật. Hơn ba trăm lượng bạc, với bổng lộc của y, căn bản không kham nổi.
“Vậy không về nữa.” Ôn Trác phất tay áo, quay người ung dung bước đi.
Liễu Khởi Nghênh: “Ơ, chẳng phải dưới gầm giường đại nhân còn—”
Ôn Trác lập tức nheo mắt: “Không có, chớ nói bậy.”
Y tuyệt đối không động đến “tiểu kim khố” giấu dưới giường.
Bốn người vào ở tại khách điếm nổi tiếng nhất Nam Châu. Vừa đẩy cửa sổ ra, liền thấy sông Tùng Xuyên. Trên sông bè tre, thuyền nhỏ qua lại như mắc cửi, dày đặc mà vẫn ngay ngắn.
Nơi khúc sông hẹp dựng mười ba cây cầu đá vòm. Trên cầu người đi lại không ngớt, tiếng rao hàng, tiếng cười nói hòa lẫn, náo nhiệt mà không hỗn loạn.
Hai bờ cửa tiệm san sát, ăn uống, đồ dùng, vui chơi đủ cả. Bên gốc liễu lớn có một quầy bánh bao, xếp hàng dài dằng dặc. Dân chúng đủ hạng người ngóng trông chờ những chiếc bánh bao nghi ngút khói ra lò.
Ven bờ đê, trẻ con đào đất chơi đùa, mặt mũi lem luốc như mèo mướp. Lỡ va phải người qua đường, làm một tiểu thư ăn mặc hoa lệ giật mình khẽ kêu.
Xa xa, tửu phường trà quán tầng tầng lớp lớp, không một nhà nào vắng khách. Tiểu nhị bận đến mức chân đá gót, lưng áo đẫm mồ hôi mà vẫn đầy hăng hái.
Ôn Trác tựa bên cửa sổ ngắm nhìn một lúc, khẽ cảm thán: “Nam Châu quả thực phồn hoa như mộng.”
Thẩm Trưng đang chăm chú nhìn cảnh khói lửa nhân gian, nghe vậy liếc xéo y một cái.
Ôn Trác nhận ra ánh nhìn, nghiêng đầu, lặng lẽ đối mắt với hắn. “……”
Sau một thoáng trầm mặc, Ôn Trác mặt không đổi sắc, nghiêm túc nói: “Đều là điều thần học được từ sách. Trong Nam Châu Thịnh Cảnh Ký có chép: ‘Nam Châu giữ yết hầu đường thủy bộ, tụ hội hàng hóa khắp thiên hạ, thuyền nam ngựa bắc, ngày đêm không dứt, phu buôn kẻ chợ, gọi nhau ầm ĩ, phố lớn không ngủ, dân an vật thịnh, thuế má dồi dào, thịnh thế bậc nhất thiên hạ.’”
Thẩm Trưng cười như không cười: “Ta có nói gì sao?”
Đêm ấy, Thẩm Trưng thuê một chiếc thuyền hoa, chèo thuyền trên sông Tùng Xuyên.
Trên boong hâm rượu ấm, vài món đặc sản Nam Châu bày sẵn. Trời đầy sao đổ xuống mặt nước, vỡ thành một dòng bạc lấp lánh.
Trong khoang lầu hai, nến đỏ cháy cao, cửa sổ hé mở, đón gió đêm và ánh trăng trong.
Ôn Trác theo “phong tục đời sau”, chủ động cởi tiết khố, hai tay chống lên bậu cửa.
Trước mắt là thuyền nhỏ lững lờ theo sóng, lồng đèn đỏ lay bóng nước, hoa thuyền mềm mại ca hát, phố xá đèn hoa rực rỡ.
Y mặc áo lan sam cổ tròn màu ngọc, y quan chỉnh tề, dáng vẻ đoan phương. Thế nhưng lại bị Thẩm Trưng vén vạt áo xẻ, kéo vào lòng.
Y nhìn cảnh đêm Nam Châu, toàn thân đỏ bừng, không giữ nổi vẻ đoan chính, lệ rơi chạm sóng, làm ướt bóng trăng chìm nơi đáy nước.
Bỗng một ca nữ đang ngân nga khúc hát uyển chuyển quay đầu lại, đúng lúc nhìn về phía song cửa.
“Phong tục đời sau chẳng hay chút nào… chúng ta đừng nữa!” Ôn Trác cuống quýt đưa tay định đóng cửa sổ, cổ tay lại bị Thẩm Trưng kéo lại, giữ nơi eo.
“Phong vật Nam Châu tuyệt diệu thế này, Vãn Sơn ngắm thêm một lát có gì không tốt?” Giọng Thẩm Trưng dịu dàng, nhịp điệu không hề thay đổi.
May thay bậu cửa rất cao, ca nữ không phát hiện điều gì, lại quay đầu đi.
Ôn Trác thở dốc, vừa tức vừa nghẹn: “Bệ hạ ghen!”
“Trẫm không có.” Thẩm Trưng hôn đi giọt lệ nơi má y, tuyệt không thừa nhận.
Mười ngày ở Nam Châu, Thẩm Trưng và Ôn Trác quan sát dân tình, thấy chợ búa hưng thịnh, dân chúng an cư, tân chính bén rễ sinh sôi, lúc ấy mới lộ thân phận, ngự giá đến phủ nha Nam Châu.
Tri châu nghe tin, lảo đảo chạy ra nghênh giá.
Người này vốn là họ hàng xa của Nam Châu Tạ gia, xưa nay không được tông tộc coi trọng. Sau khi Tạ Lãng Dương bại sự, Tạ gia sụp đổ, tuy hắn không bị liên lụy, nhưng vẫn ngày ngày nơm nớp lo sợ.
Thẩm Trưng nghe rõ nguồn cơn, mỉm cười an ủi: “Nội tỉnh không thẹn, lo gì sợ gì. Trẫm không vì lỗi một người mà giận lây chi thứ Tạ thị. Ngươi tại nhiệm cần mẫn, trị cảnh yên ổn, sau này ắt có chỗ đề bạt.”
Tri châu lúc ấy mới yên lòng, lập tức dập đầu tạ ân, đứng dậy chân thành nói: “Nam Châu hôm nay phồn hoa, tuyệt không phải công một mình thần. Bệ hạ mở rộng hải vận, lụa Nam Châu đi khắp thiên hạ; Thủ phụ thi hành tân chính, dân no kho đủ, đến mức đường không nhặt của rơi, đêm không cần đóng cửa. Gặp được minh quân danh thần, thực là phúc của vạn dân, phúc của hàng nho lại.”
Lời ấy không phải nịnh hót. Thẩm Trưng đăng cơ ba năm, sự phú thịnh của Nam Châu đã vượt xa thời Thuận Nguyên triều, trong dân gian lời ca tụng tân quân khắp nơi đều nghe thấy.
Thẩm Trưng sợ được khen nhiều quá sinh tự mãn, nên chỉ ở phủ nha hai ngày liền hạ chỉ hồi kinh.
Trên đường về xe ngựa êm ái. Đi được nửa đường, Ôn Trác như vô tình nói: “Hôm ấy bệ hạ nói không vì một người mà giận lây kẻ khác. Vậy sao đêm đầu đến Nam Châu, lại ‘khó chiều’ hơn thường ngày?”
Thẩm Trưng giả vờ mất trí nhớ: “Có chuyện đó sao? Trẫm không nhớ. Trẫm thấy lão sư chân mềm liền dừng lại ngay, sao gọi là khó chiều?”
Trở về kinh, trong triều vẫn có một đám lão thần cương trực liên tiếp dâng sớ, cần mẫn khuyên Thẩm Trưng sớm thành hôn, sung túc hậu cung để nối dõi đế hệ.
Thẩm Trưng thấy thời cơ đã đến, bèn phê trên mấy bản tấu can gián gay gắt ấy một câu: “Chuẩn tấu. Trẫm lập tức nghênh hoàng hậu nhập cung.”
Các lão thần thấy thiên tử cuối cùng “thông suốt”, ai nấy như trút gánh nặng. Chu Hy Văn còn tại chỗ uống cạn một hồ rượu đục, trải giấy thực lục, hạ bút viết như bay: “Quần thần ba năm dốc lòng can gián, thượng lãm quần tình, cảm động mà thuận theo, bèn hạ chỉ sách lập hoàng hậu, cử hành đại điển. Tin ban ra, quần thần vui mừng, xa gần truyền chúc. Bấy giờ Đại Càn trong ngoài yên ổn, quốc thái dân phong, chỉ còn đại hôn đế thất chưa cử hành, triều dã đều canh cánh. Đến nay trên dưới đều an.”
Mực còn chưa khô, sứ giả trong cung đã nâng minh chiếu chạy thẳng đến Ty Thiên Giám:
“Phụng thiên thừa vận hoàng đế, chiếu rằng: Trẫm thuở ở Tiềm để, gặp lúc gian nguy, may được Thủ phụ hết lòng phò tá, dấn thân không từ hiểm nguy, sinh tử chẳng nề. Trẫm cùng người gặp gỡ, vừa thấy đã khuynh tâm, trải năm tháng tình càng đậm.
Nay càn khôn đã định, quốc thái dân an, đặc ban minh chiếu, sách lập Vãn Sơn làm Hoàng hậu, để cùng trẫm đồng tôn cộng quý, nương tựa bên nhau, nắm tay trọn đời. Lòng trẫm sáng tỏ, thề này không đổi, cáo dụ thiên hạ, đều khiến nghe biết.”
Chu Hy Văn “bộp” một tiếng ngất xỉu.
Bên này Chu Hy Văn vừa ngất, bên kia Chu Hy Bang đã cuống cuồng khoác quan bào, vẩy vài giọt nước lên mặt, vừa mừng vừa khóc chạy thẳng đến hoàng thành, quỳ trước cổng cung lớn tiếng chúc mừng, giọng vang cả nửa con phố: “Đế tướng đồng thủ, thì triều chính thanh minh; đế tướng đồng tâm, thì thiên hạ quy tâm! Đây không chỉ là phúc của gia đình bệ hạ, mà còn là phúc của xã tắc Đại Càn! Thần Chu Hy Bang, kính chúc đế tướng ân ái bền lâu, đầu bạc răng long, duyên này trời định, muôn đời truyền tụng!”
Chu Hy Văn lại bị tức đến tỉnh dậy, chỉ ra cửa run giọng quát: “Bắt cái thứ làm mất mặt ấy về cho ta!”
Bên kia, Vĩnh Ninh hầu nhận tin, bật dậy, râu tóc rung lên, vội gọi Quân Định Uyên: “Hoài Thâm, chuyện này là thật sao?!”
Quân Định Uyên mặt thản nhiên: “Phụ thân sao đến hôm nay mới biết?”
Vĩnh Ninh hầu đập mạnh đùi: “Chẳng ai nói cho ta biết nửa chữ!”
Mặc Thư đứng bên cạnh lặng lẽ đỡ trán — hình như quả thật đã quên mất Hầu gia.
Vĩnh Ninh hầu vừa gấp vừa lo: “Ôn chưởng viện dung mạo thanh tú, tính tình ôn hòa… chẳng lẽ là Trưng Nhi…”
Mặc Thư bật cười: “Hầu gia cứ yên tâm, hai người tâm đầu ý hợp, đều xuất phát từ tự nguyện.”
Dù trong triều ngoài dã có bàn tán bao nhiêu, minh chiếu đã ban, đại hôn đã thành định cục.
Ngày đại hôn, kinh thành dán đầy giấy đỏ, ngõ phố treo kín lụa hồng, tiếng pháo vang trời dậy đất, chấn động bốn phương.
Bách tính dắt díu già trẻ, chen chúc hai bên hoàng thành, tranh nhau xem lễ cưới hoàng gia xưa nay chưa từng có.
Theo lễ chế vốn định, thiên tử chí tôn không tự thân đi nghênh thân. Thế nhưng Thẩm Trưng nhất quyết không theo cựu lệ, tự tay cầm tiết trượng, kim sách, kim bảo, bày loan giá, thẳng đến Ôn phủ rước dâu.
Cửa lớn mở rộng. Ôn Trác một thân hôn bào — không phải váy trâm của nữ tử, mà là hoa phục công tử, mão đính châu ngọc, thắt đai vàng, dung quang rực rỡ, hiếm có xưa nay.
Y bước về phía trước, trường bào đỏ thẫm quét đất, phiêu dật thoát trần, hướng về Thẩm Trưng nở nụ cười đầy mắt.
Thẩm Trưng ghìm cương ngựa trước cửa, nhìn đến gần như thất thần. Rất lâu sau mới xuống ngựa, bước nhanh tới, nắm chặt tay Ôn Trác.
Trong mắt hắn tràn đầy kinh diễm, chăm chú nhìn y: “Vãn Sơn, lòng ta chỉ hướng một mình ngươi. Gả cho ta làm hậu, được không?”
Ôn Trác ánh mắt sáng ngời, nhớ lại câu nói đùa năm xưa khi bái sư, chỉnh vạt áo, nghiêm túc đáp: “Thần… nguyện ý.”
Thẩm Trưng mỉm cười, ghé sát bên tai y thì thầm: “Nơi này người đông, dễ sinh lời bàn. Đợi hồi cung, ta còn đầy bụng lời tình, nói cho ngươi nghe.”
Trên trước ngự điện Trường Nhai, hàng ngàn cung đăng sáng rực. Đế – tướng tay trong tay lên liễn tại chính môn hoàng thành, cùng xe tiến vào.
Hôm ấy, Thẩm Trưng ban chiếu đại xá thiên hạ, cả nước mừng ba ngày, lại dụ cáo bách quan: Ôn Trác trước là danh thần trị thế, sau mới là người trẫm đặt trong tim. Triều thần gặp mặt, vẫn xưng Thủ phụ.
Ôn Trác không ở Khôn Ninh cung, mà cùng Thẩm Trưng ngủ tại Càn Thanh cung.
Chỉ vì thiên tử từng nói—
“Đời này chỉ có một người ấy, tình sâu ý nặng, vốn nên cùng chung chăn gối, nương tựa bên nhau.”
*****************
Những lúc rảnh rỗi, Thẩm Trưng thường thích vê một lọn tóc tơ của Ôn Trác mà nghịch, hết lần này đến lần khác thở dài: “Vãn Sơn, thuở mới gặp, sao ngươi không làm cho ta một bài tình phú?”
Ôn Trác lần nào cũng đặt sách xuống, liếc xéo hắn, nhắc nhở: “Lần đầu gặp mặt, bệ hạ nói việc cấp bách là phải lập tức hung hăng sỉ nhục người. Khi ấy ta còn tưởng bệ hạ đầu óc có bệnh.”
Thẩm Trưng thầm cười, rồi lại làm bộ nghiêm mặt, vô lý nói: “Trẫm mặc kệ. Người khác có, trẫm cũng phải có.”
Ôn Trác nheo mắt: “Bệ hạ còn nói mình lòng dạ rộng rãi, chưa từng ghen cơ mà.”
Thẩm Trưng chống bàn suy nghĩ: “Bài phú của trẫm nhất định phải lợi hại hơn. Vãn Sơn đã là tài Trạng nguyên, chi bằng bắt chước Tào Thực năm xưa, một đêm bảy lần thành phú. Tối nay bắt đầu.”
“?”
Ôn Trác lập tức quẳng sách, xoay người bỏ chạy.
***************
Hậu ký《Trừng Hoài Lục》 — Ôn Trác
Đời ta lưu lạc long đong, thế lộ gập ghềnh, nhiều lần bị phụ bạc. Người hiểu ta ít ỏi, kẻ oán ta chen chúc. Năm xưa thân hãm đêm dài, tự cho rằng vĩnh viễn không có ngày về.
Ấy vậy mà nơi tuyệt cảnh gặp được Thẩm Trưng. Hắn xoa dịu tâm bệnh ta, thương tiếc thân tàn này, tình nóng bỏng mà quang minh, ý chân thành chẳng giấu giếm, xem ta như trân bảo, không vì họa sắc mà vứt bỏ. Từ ngày gặp quân, bụi sương cay đắng ngày trước dần dần quên hết. Mỗi lần nghĩ tới, lại cảm tạ trời xanh hậu đãi. Ta từ chốn Cửu U lệ quỷ, thoát thành du thần nhân gian.
Bài này viết riêng, không muốn để quân thấy, sợ quân hứng chí bừng lên, quấn ta đòi đọc những lời thẹn thùng trong sách. Chỉ có một điều hơi không vừa ý — bệ hạ, xin chăm luyện bút mực đi! Thần thực sự không chịu nổi nét chữ vụng về của người!
Comments